Thực hiện công bố và tạm hoãn công bố thông tin được quy định như thế nào?
Thực hiện công bố và tạm hoãn công bố thông tin được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và nhận thấy việc công khai thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động giám sát. Tuy nhiên, tôi chưa rõ doanh nghiệp phải thực hiện công bố thông tin theo hình thức, trình tự như thế nào và trong những trường hợp nào được phép tạm hoãn công bố thông tin. Vậy việc thực hiện công bố và tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện công bố thông tin như thế nào?
2. Pháp luật quy định như thế nào về tạm hoãn công bố thông tin?
Trả lời:
1. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện công bố thông tin như thế nào?
Việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi phải đáp ứng nguyên tắc đầy đủ, chính xác và kịp thời theo luật định nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp. Để bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc công bố thông tin, doanh nghiệp nhà nước thực hiện công bố theo Điều 25 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP"), cụ thể như sau:
"Điều 25. Thực hiện công bố thông tin.
1. Doanh nghiệp thực hiện báo cáo và đăng tải các thông tin quy định tại Điều 23, Điều 24 Nghị định này trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp đúng thời hạn; đồng thời gửi báo cáo tới cơ quan đại diện chủ sở hữu. Đối với nội dung quan trọng, liên quan hoặc ảnh hưởng đến bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, doanh nghiệp báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định nội dung cần hạn chế công bố thông tin.
2. Cơ quan đại diện chủ sở hữu đăng tải trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan các thông tin phải công bố định kỳ của doanh nghiệp trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của doanh nghiệp. Cơ quan đại diện chủ sở hữu rà soát, đánh giá, quyết định việc hạn chế công bố thông tin các nội dung quan trọng, liên quan hoặc ảnh hưởng đến bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, giám sát."
Dẫn chiếu đến Điều 23, Điều 24 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 23. Các thông tin công bố định kỳ.
1. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải định kỳ công bố các thông tin sau đây:
a) Thông tin cơ bản về doanh nghiệp và Điều lệ công ty;
b) Mục tiêu tổng quát, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt theo nội dung quy định tại Biểu số 2 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 3 của năm thực hiện;
c) Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm theo nội dung quy định tại Biểu số 3 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
d) Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích được giao theo kế hoạch hoặc đấu thầu (nếu có) và trách nhiệm xã hội khác theo nội dung quy định tại Biểu số 4 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
đ) Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức 06 tháng của doanh nghiệp theo nội dung quy định tại Biểu số 5 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
e) Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức hằng năm của doanh nghiệp theo nội dung quy định tại Biểu số 6 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
h) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có) theo quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp; thời hạn công bố trong vòng 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Và
"Điều 24. Các thông tin công bố bất thường.
Doanh nghiệp phải công bố trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh của công ty; Cổng thông tin doanh nghiệp và gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu về các thông tin bất thường trong thời hạn 36 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện quy định tại khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp."
* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).
Theo đó, doanh nghiệp nhà nước thực hiện báo cáo và đăng tải các thông tin công bố định kỳ, các thông tin công bố bất thường trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp đúng thời hạn và gửi báo cáo đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Điều này tạo cơ sở để thông tin công bố được tiếp cận rộng rãi đến các chủ thể có liên quan và công chúng quan tâm đến doanh nghiệp, đồng thời phục vụ công tác theo dõi, giám sát doanh nghiệp.
Đối với nội dung quan trọng, liên quan hoặc ảnh hưởng đến bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, doanh nghiệp báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định nội dung cần hạn chế công bố thông tin. Có thể thấy, pháp luật công nhận rằng không phải mọi thông tin của doanh nghiệp nhà nước đều có thể công khai. Bởi lẽ, doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp quốc phòng – an ninh, có thể nắm giữ những thông tin bí mật về dây chuyền công nghệ, khu vực hoạt động quốc phòng hay các hợp đồng chiến lược. Việc không hạn chế công bố những thông tin này có thể làm lộ bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh. Do đó, những nội dung quan trọng này cần báo cáo cho cơ quan đại diện chủ sở hữu để đưa ra quyết định.
Khi nhận được báo cáo từ doanh nghiệp nhà nước, trong vòng 05 ngày làm việc sau đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu đăng tải trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan các thông tin phải công bố định kỳ của doanh nghiệp. Thời hạn 05 ngày làm việc tạo mốc thời gian cụ thể để cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện việc đăng tải, góp phần hạn chế tình trạng chậm công khai thông tin sau khi đã tiếp nhận báo cáo.
Đối với những nội dung quan trọng, liên quan hoặc ảnh hưởng đến bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu rà soát, đánh giá, quyết định việc hạn chế công bố thông tin, đồng thời thông báo cho Bộ Tài chính theo dõi và giám sát. Việc rà soát và quyết định hạn chế công bố thông tin góp phần bảo vệ các lợi ích cần được giữ bí mật, tránh nguy cơ tiết lộ thông tin có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hoặc gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, việc thông báo cho Bộ Tài chính tạo cơ sở để tăng cường giám sát việc thực hiện, có thể hạn chế tình trạng giữ lại thông tin hoặc lạm dụng lý do bảo mật để né tránh nghĩa vụ công khai.
Tóm lại, việc thực hiện công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước không chỉ dừng lại ở nghĩa vụ cung cấp thông tin đúng thời hạn mà còn gắn với sự phối hợp giữa doanh nghiệp nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu trong quá trình kiểm soát, công khai thông tin. Sự kết hợp giữa thực hiện công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường và cơ chế xem xét hạn chế công khai đối với những nội dung cần bảo mật góp phần bảo đảm thông tin được cung cấp kịp thời, minh bạch nhưng vẫn bảo vệ các lợi ích hợp pháp cần được giữ bí mật. Đây là cơ sở quan trọng để tăng cường tính công khai trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện cho việc giám sát và nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước.
2. Pháp luật quy định như thế nào về tạm hoãn công bố thông tin?
Trong một số trường hợp bất khả kháng, doanh nghiệp nhà nước có thể không công bố thông tin đúng thời hạn luật định. Khi đó, việc công bố thông tin có thể được tạm hoãn. Nội dung về tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được ghi nhận tại Điều 26 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:
"Điều 26. Tạm hoãn công bố thông tin.
1. Doanh nghiệp báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu về việc tạm hoãn công bố thông tin trong trường hợp việc công bố thông tin không thể thực hiện đúng thời hạn vì lý do bất khả kháng hoặc cần sự chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với những nội dung cần hạn chế công bố thông tin.
2. Cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin và thông báo bằng văn bản cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
3. Doanh nghiệp phải công bố trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp việc tạm hoãn công bố thông tin, đồng thời phải thực hiện công bố thông tin ngay sau khi sự kiện bất khả kháng được khắc phục hoặc sau khi có ý kiến của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với các nội dung cần hạn chế công bố thông tin."
* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).
Theo đó, doanh nghiệp nhà nước báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu về việc tạm hoãn công bố thông tin trong hai trường hợp sau:
- Việc công bố thông tin không thể thực hiện đúng thời hạn vì lý do bất khả kháng: Trường hợp này ghi nhận những trở ngại khách quan khiến doanh nghiệp không thể hoàn thành nghĩa vụ công bố theo thời hạn đã xác định, dù có thể đã thực hiện các biện pháp cần thiết để tuân thủ. Việc báo cáo giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu nắm bắt nguyên nhân chậm công bố, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp và xem xét tính phù hợp của việc tạm hoãn, qua đó hạn chế tình trạng chậm trễ không có căn cứ chính đáng.
- Cần sự chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với nội dung cần hạn chế công bố thông tin: Đối với nội dung quan trọng, liên quan hoặc ảnh hưởng đến bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước có thể tạm hoãn để cơ quan đại diện chủ sở hữu rà soát, đánh giá, quyết định nội dung cần hạn chế công bố thông tin.
Sau đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu nhận báo cáo về việc tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và tiến hành xem xét, quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính. Có thể thấy, doanh nghiệp không được tự mình quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin mà bắt buộc phải thông qua sự thẩm định và chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Ngoài ra, việc gửi văn bản thông báo cho Bộ Tài chính giúp cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt chính xác nguyên nhân chậm trễ công bố thông tin, bảo đảm tính thống nhất và kịp thời trong việc quản lý Cổng thông tin doanh nghiệp.
Khi được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận, doanh nghiệp nhà nước phải công bố trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp việc tạm hoãn công bố thông tin. Việc công khai thông báo về tạm hoãn công bố thông tin giúp thị trường, đối tác và nhà đầu tư nắm được lý do chính đáng, tránh gây hoang mang cho những chủ thể quan tâm.
Đồng thời, ngay sau khi sự kiện bất khả kháng được khắc phục hoặc sau khi có ý kiến của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với các nội dung cần hạn chế công bố thông tin, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện công bố thông tin. Sự tạm hoãn công bố thông tin chỉ mang tính chất tạm thời nên ngay sau khi có chỉ đạo từ cơ quan đại diện chủ sở hữu, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện công bố thông tin ngay, bảo đảm tuân thủ nguyên tắc kịp thời trong thực hiện công bố thông tin.
Như vậy, cơ chế tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được thiết lập nhằm xử lý những trường hợp mà việc công bố thông tin đúng hạn chưa thể thực hiện được vì lý do bất khả kháng hoặc cần xem xét vì ảnh hưởng đến bí mật và an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh. Việc đặt ra yêu cầu báo cáo, cũng như việc cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, chấp thuận và thông báo công khai về tạm hoãn công bố thông tin giúp kiểm soát quá trình thực hiện, hạn chế nguy cơ lợi dụng tạm hoãn để né tránh nghĩa vụ công bố. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục công bố ngay khi nguyên nhân tạm hoãn được khắc phục hoặc có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền góp phần duy trì tính minh bạch, kịp thời của thông tin và bảo đảm hoạt động giám sát doanh nghiệp nhà nước được thực hiện liên tục.
Trân trọng./.