Chủ tịch công ty tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Chủ tịch công ty tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu về cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước và muốn tìm hiểu rõ hơn về vị trí Chủ tịch công ty trong mô hình doanh nghiệp này. Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc bổ nhiệm, nhiệm kỳ, quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch công ty tại doanh nghiệp nhà nước? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Pháp luật quy định doanh nghiệp có những quyền nào?

2. Chủ tịch công ty tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Pháp luật quy định doanh nghiệp có những quyền nào?

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần được bảo đảm các quyền để chủ động tổ chức hoạt động, khai thác nguồn lực và thực hiện các chiến lược phát triển phù hợp. Các quyền của doanh nghiệp được ghi nhận cụ thể tại Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:

"Điều 7. Quyền của doanh nghiệp

1. Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm.

2. Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

3. Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.

4. Tự do tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng.

5. Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.

6. Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

7. Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

8. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

9. Từ chối yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân về cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.

10. Khiếu nại, tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

11. Quyền khác theo quy định của pháp luật."

Theo đó, các quyền của doanh nghiệp có thể chia thành ba nhóm quyền như sau:

Thứ nhất, nhóm quyền về tự do và tự chủ kinh doanh tại khoản 1, 2, 4, 5 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bao gồm các quyền sau:

- Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm;

- Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh;

- Tự do tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng;

- Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.

Có thể thấy, pháp luật cho phép doanh nghiệp chủ động quyết định phương hướng và cách thức tiến hành hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp được tự do thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng vẫn phải đảm bảo nằm trong khuôn khổ pháp luật, bao gồm việc đáp ứng điều kiện đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và tuân thủ các quy định chuyên ngành có liên quan. Nhóm quyền này sẽ bảo đảm doanh nghiệp có không gian chủ động trong việc xây dựng chiến lược, phân bổ nguồn lực và thích ứng với sự thay đổi của thị trường mà không gặp nhiều hạn chế. Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng quan hệ thương mại và khuyến khích doanh nghiệp khai thác các cơ hội kinh doanh trong nước lẫn quốc tế.

Thứ hai, nhóm quyền chủ động quản lý, sử dụng và phát triển nguồn lực kinh doanh tại khoản 3, 6, 7, 8 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bao gồm các quyền sau:

- Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn;

- Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động;

- Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ;

- Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

Các quyền này bảo đảm doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tổ chức và khai thác những nguồn lực cần thiết cho hoạt động kinh doanh, qua đó nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Việc bảo đảm quyền chủ động đối với các nguồn lực còn giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong tổ chức hoạt động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng lợi thế phát triển bền vững.

Thứ ba, nhóm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp tại khoản 9, 10, 11 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bao gồm các quyền sau:

- Từ chối yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân về cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật;

- Khiếu nại, tham gia tố tụng theo luật định;

- Quyền khác theo quy định của pháp luật.

Nhóm quyền này góp phần bảo vệ doanh nghiệp trước những yêu cầu không có căn cứ pháp luật và tạo cơ sở để doanh nghiệp chủ động bảo vệ lợi ích của mình khi xảy ra tranh chấp. Từ đó, pháp luật không chỉ ghi nhận quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh mà còn thiết lập cơ chế bảo vệ cần thiết, góp phần củng cố tính minh bạch và sự an toàn pháp lý trong môi trường kinh doanh.

Như vậy, pháp luật đã bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong quá trình thành lập và hoạt động kinh doanh, đồng thời ghi nhận cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Việc bảo đảm các quyền này góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, khuyến khích đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện phát huy tính chủ động, khai thác hiệu quả các nguồn lực và phát triển hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật.

2. Chủ tịch công ty tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Trong cơ chế tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban kiểm soát thì Chủ tịch công ty giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền quản lý và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền. Nội dung về Chủ tịch công ty được ghi nhận cụ thể tại Điều 99 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:

"Điều 99. Chủ tịch công ty

1. Chủ tịch công ty do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm theo quy định của pháp luật. Chủ tịch công ty có nhiệm kỳ không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Một cá nhân được bổ nhiệm không quá hai nhiệm kỳ, trừ trường hợp người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu. Tiêu chuẩn, điều kiện và các trường hợp miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch công ty được thực hiện theo quy định tại Điều 93 và Điều 94 của Luật này.

2. Chủ tịch công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại công ty theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khác theo quy định tại Điều 92 và Điều 97 của Luật này.

3. Tiền lương, phụ cấp, thù lao của Chủ tịch công ty được tính vào chi phí quản lý công ty.

4. Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch công ty tổ chức lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước và nước ngoài trước khi quyết định vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty. Chi phí lấy ý kiến chuyên gia tư vấn được quy định tại quy chế quản lý tài chính của công ty.

5. Quyết định thuộc thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này phải được lập thành văn bản, ký tên với chức danh Chủ tịch công ty bao gồm cả trường hợp Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

6. Quyết định của Chủ tịch công ty có hiệu lực kể từ ngày ký hoặc từ ngày có hiệu lực ghi trong quyết định, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.

7. Trường hợp Chủ tịch công ty xuất cảnh khỏi Việt Nam trên 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch công ty; việc ủy quyền phải được thông báo kịp thời bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trường hợp ủy quyền khác thực hiện theo quy định tại quy chế quản lý nội bộ của công ty."

Dẫn chiếu đến Điều 93, Điều 94, Điều 92 và Điều 97 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được quy định như sau:

"Điều 93. Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên

1. Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này.

2. Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.

3. Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.

4. Không phải là người quản lý doanh nghiệp thành viên.

5. Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc, Tổng giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

6. Chưa từng bị cách chức Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.

7. Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty."

"Điều 94. Miễn nhiệm, cách chức thành viên Hội đồng thành viên

1. Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên bị miễn nhiệm trong trường hợp sau đây:

a) Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại Điều 93 của Luật này;

b) Có đơn xin từ chức và được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận bằng văn bản;

c) Có quyết định điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc nghỉ hưu;

d) Không đủ năng lực, trình độ đảm nhận công việc được giao;

đ) Không đủ sức khỏe hoặc không còn uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên.

2. Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên bị cách chức trong trường hợp sau đây:

a) Công ty không hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch hằng năm, không bảo toàn và phát triển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không giải trình được nguyên nhân khách quan hoặc giải trình nguyên nhân nhưng không được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận;

b) Bị Tòa án kết án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

c) Không trung thực trong thực thi quyền, nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị, chức vụ, sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; báo cáo không trung thực tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty.

3. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày có quyết định miễn nhiệm hoặc cách chức Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên, cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định tuyển chọn, bổ nhiệm người khác thay thế."

"Điều 92. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên

1. Hội đồng thành viên nhân danh công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên đối với công ty do công ty làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.

2. Hội đồng thành viên có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyết định các nội dung theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

b) Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc;

c) Quyết định kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm, chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ của công ty;

d) Tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ của công ty;

đ) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Điều lệ công ty, Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan."

Và

"Điều 97. Trách nhiệm của Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên

1. Tuân thủ Điều lệ công ty, quyết định của chủ sở hữu công ty và quy định của pháp luật.

2. Thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm tối đa lợi ích hợp pháp của công ty và Nhà nước.

3. Trung thành với lợi ích của công ty và Nhà nước; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

4. Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mà mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối và doanh nghiệp mà người có liên quan của mình làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần, phần vốn góp chi phối. Thông báo này được tập hợp và lưu giữ tại trụ sở chính của công ty.

5. Chấp hành nghị quyết Hội đồng thành viên.

6. Chịu trách nhiệm cá nhân khi thực hiện các hành vi sau đây:

a) Lợi dụng danh nghĩa công ty thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

b) Tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác;

c) Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn khi nguy cơ rủi ro tài chính có thể xảy ra đối với công ty.

7. Trường hợp thành viên Hội đồng thành viên phát hiện có thành viên Hội đồng thành viên khác có hành vi vi phạm trong thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao thì có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với cơ quan đại diện chủ sở hữu; yêu cầu thành viên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả."

Theo đó, Chủ tịch công ty do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm theo luật định. Chủ tịch công ty có nhiệm kỳ không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại và một cá nhân được bổ nhiệm không quá hai nhiệm kỳ. Việc giới hạn tối đa hai nhiệm kỳ đảm nhiệm chức vụ sẽ giúp đổi mới động lực quản trị, ngăn ngừa nguy cơ lợi ích nhóm, cục bộ khi một cá nhân giữ vị trí đứng đầu trong thời gian dài. Tuy nhiên, trong trường hợp người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty trước khi được bổ nhiệm lần đầu có thể được bổ nhiệm hơn hai nhiệm kỳ. Điều này thể hiện chính sách trân trọng nguồn nhân sự giàu kinh nghiệm và am hiểu sâu sắc đặc thù vận hành của doanh nghiệp.

Tiêu chuẩn, điều kiện và các trường hợp miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch công ty được thực hiện tương tự như đối với thành viên Hội đồng thành viên của doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Việc áp dụng tiêu chuẩn, điều kiện và các trường hợp miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch công ty sẽ góp phần loại trừ các nguy cơ xung đột lợi ích và bảo đảm người quản lý có năng lực chuyên môn đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp.

Về quyền hạn và trách nhiệm, Chủ tịch công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại công ty theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, cũng như những quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm khác tương tự như Hội đồng thành viên, Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên của doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Điều này sẽ tạo cơ chế trách nhiệm trực diện khi mọi quyết định định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh và dự án đầu tư vốn nhà nước đều có cá nhân chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước, góp phần khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.

Về quyết định của Chủ tịch công ty, các quyết định thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty đều phải được lập thành văn bản, ký tên với chức danh Chủ tịch công ty (bao gồm trường hợp Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc) và có hiệu lực kể từ ngày ký hoặc từ ngày có hiệu lực ghi trong quyết định, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận. Qua yêu cầu trên có thể thấy, ngay cả khi một cá nhân kiêm nhiệm hai chức danh, việc bắt buộc ghi rõ "Chủ tịch công ty" khi ký quyết định sẽ giúp phân định rõ ràng quyết định nào được ban hành với tư cách đại diện chủ sở hữu và quyết định nào với tư cách chủ thể điều hành công ty, làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm khi phát sinh rủi ro. Ngoài ra, hiệu lực các quyết định của Chủ tịch công ty sẽ tạo tính linh hoạt trong kinh doanh, giúp doanh nghiệp chủ động, nhạy bén nắm bắt cơ hội thị trường do quyết định quản trị có hiệu lực thi hành ngay nhưng vẫn giữ vững sự kiểm soát của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với các quyết định vượt thẩm quyền của Chủ tịch công ty.

Ngoài ra, tiền lương, phụ cấp và thù lao của Chủ tịch công ty được tính vào chi phí quản lý công ty. Việc ghi nhận này tạo cơ sở để doanh nghiệp hạch toán các khoản chi trả liên quan đến chức danh Chủ tịch công ty, đồng thời hỗ trợ việc quản lý và kiểm soát chi phí theo quy định tài chính có liên quan.

Để thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao, Chủ tịch công ty được sử dụng bộ máy quản lý, điều hành và bộ phận giúp việc của công ty. Khi cần thiết, Chủ tịch công ty còn có thể lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước hoặc nước ngoài trước khi quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền. Chi phí tư vấn được thực hiện theo quy chế quản lý tài chính của công ty. Cơ chế này giúp Chủ tịch công ty tận dụng nguồn lực chuyên môn sẵn có và bổ sung thông tin cần thiết trước khi đưa ra quyết định, qua đó hỗ trợ nâng cao chất lượng quản lý và hạn chế rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp.

Trong trường hợp Chủ tịch công ty xuất cảnh khỏi Việt Nam trên 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch công ty; việc ủy quyền phải được thông báo kịp thời bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trường hợp ủy quyền khác thực hiện theo quy chế quản lý nội bộ của công ty. Điều này sẽ bảo đảm sự liên tục trong công tác quản lý và điều hành công ty, ngăn ngừa tình trạng ngưng trệ các hoạt động giao dịch của doanh nghiệp khi người đứng đầu vắng mặt dài ngày. Bên cạnh đó, nghĩa vụ thông báo cho cơ quan đại diện chủ sở hữu giúp Nhà nước nắm bắt tình hình kịp thời và giám sát phạm vi ủy quyền, tránh việc ủy quyền tràn lan hoặc trốn tránh trách nhiệm.

Như vậy, pháp luật thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc xác lập vị trí, quyền hạn và cách thức thực hiện nhiệm vụ của Chủ tịch công ty tại doanh nghiệp nhà nước. Qua đó, pháp luật vừa tạo điều kiện để Chủ tịch công ty chủ động thực hiện chức trách, vừa đặt ra yêu cầu về hình thức quyết định, cơ chế chấp thuận và ủy quyền, góp phần bảo đảm hoạt động quản lý được thực hiện có căn cứ, minh bạch và phù hợp với pháp luật.

Trân trọng./.