THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 94/TB-VKS-LĐ NGÀY 16/10/2019 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN LAO ĐỘNG “YÊU CẦU HỦY QUYẾT ĐỊNH ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

- Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 19/QĐ-NK ngày 03/4/2017 về việc chấm dứt Hợp đồng lao động đối với bà Lê Thị Thu Nhung: Việc bà Lê Thị Thu Nhung tự ý nghỉ việc không xin phép, có những hành động, phát ngôn vi phạm quy định trong quy chế làm việc áp dụng cho nhân viên Nhà khách không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định Quyết định số 19 thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động là có căn cứ. Căn cứ Điều 42 Bộ luật lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ buộc phải nhận người lao động trở lại làm việc, trường hợp nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng do bà Lê Thị Thu Nhung không yêu cầu Nhà khách tỉnh D nhận bà trở lại làm việc nên không cần thiết phải hủy Quyết định trên là không đúng. Việc bà Nhung không đồng ý trở lại làm việc là ý chí chủ quan của bà Nhung và được pháp luật chấp nhận, không làm thay đổi bản chất của Quyết định số 19/QĐ-NK là quyết định trái pháp luật và cần thiết phải hủy Quyết định trên để trả lại sự công bằng cho bà Nhung. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự cùng khai bà Nhung vào làm việc tại Nhà khách tỉnh D từ tháng 10/2010, Nhà khách ký Hợp đồng lao động với bà Nhung nhiều lần, lần cuối cùng vào ngày 01/11/2015, thời hạn 03 năm. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm phải thu thập tài liệu, chứng cứ, cụ thể là các hợp đồng lao động ký kết trước đó để làm rõ lời khai của các bên đương sự, từ đó có cơ sở kết luận hợp đồng lao động phát sinh tranh chấp là hợp đồng không xác định thời hạn hay hợp đồng xác định thời hạn làm cơ sở giải quyết hậu quả pháp lý tương ứng.

- Đối với yêu cầu bồi thường tiền lương trong những ngày không được làm việc: Tại đơn khởi kiện cũng như ghi nhận tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm, bà Nhung yêu cầu Nhà khách phải bồi thường cho bà tiền lương trong những ngày làm việc từ khi Nhà khách ban hành Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (03/4/2017) đến ngày xét xử sơ thẩm (20/7/2018) (tức là 15 tháng 17 ngày). Bà Nhung cũng khai rằng tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, bà không thể biết khi nào sẽ xét xử sơ thẩm nên ước tính là 09 tháng. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bà Nhung chỉ yêu cầu số tiền cụ thể (ghi tại đơn khởi kiện) là 09 tháng x 2.700.000 đồng = 24.300.000 đồng nên chỉ xét 09 tháng, 6 tháng 17 ngày còn lại là vượt quá yêu cầu khởi kiện nên không xem xét là không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của bà Nhung.

Đối với khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Tòa án cấp phúc thẩm tính thành số tiền và buộc Nhà khách tỉnh D trả trực tiếp cho bà Nhung là không phù hợp, chỉ cần tuyên buộc người sử dụng lao động (Nhà khách tỉnh D) phải thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động (bà Lê Thị Thu Nhung) trong thời gian người lao động không được làm việc, chốt Sổ Bảo hiểm xã hội và trả bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm không phát hiện vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm để kịp thời kháng nghị hoặc báo cáo kháng nghị theo quy định là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Trên đây là những vấn đề cần rút kinh nghiệm qua công tác kháng nghị và kết quả giải quyết vụ án lao động, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thấy cần thông báo cho các Viện kiểm sát địa phương rút kinh nghiệm chung khi kiểm sát giải quyết các vụ án tương tự./.