Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện đang tìm hiểu cơ hội tham gia Hội đồng thành viên tại một doanh nghiệp nhà nước và muốn chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết trước khi ứng tuyển hoặc được xem xét bổ nhiệm vào vị trí này. Vậy pháp luật hiện hành yêu cầu những tiêu chuẩn và điều kiện gì đối với thành viên Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác và các trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ này? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Những tổ chức, cá nhân nào không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam?
Trả lời:
1. Những tổ chức, cá nhân nào không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam?
Pháp luật cho phép tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng đều được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi bởi điểm a, điểm b khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2025 đã loại trừ một số trường hợp không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thể như sau:
"Điều 17. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp
…
2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng;
g) Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
…"
Dẫn chiếu đến điểm a khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:
"Điều 88. Doanh nghiệp nhà nước
1. Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:
a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
…"
Theo đó, những tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập và quản lý doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoạt động dựa vào nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước. Việc không cho phép những đối tượng này thành lập doanh nghiệp nhằm ngăn chặn tình trạng tiêu cực, phòng tránh tham ô, tham nhũng nguồn ngân sách nhà nước;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cán bộ, công chức, viên chức được hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên việc cấm các cá nhân này thành lập và quản lý doanh nghiệp sẽ góp phần giảm nguy cơ lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc phân tán nguồn lực thực thi công vụ sang hoạt động kinh doanh cá nhân. Tuy nhiên, ngoại lệ được ghi nhận cho thấy pháp luật có sự linh hoạt đối với những trường hợp đặc thù thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhưng việc tham gia vẫn phải đáp ứng các điều kiện theo pháp luật có liên quan;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước. Những đối tượng trên là người nắm giữ những chức trách, nhiệm vụ quan trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam. Việc cấm họ thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm tránh việc những đối tượng này biến việc kinh doanh thành công cụ để tham nhũng, tư lợi cá nhân, đồng thời gây xao nhãng khi thực thi công vụ. Dù vậy, việc quy định ngoại lệ dành cho người được cử thực hiện nhiệm vụ quản lý vốn nhà nước hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước tạo cơ sở cho việc bố trí nhân sự theo yêu cầu quản lý và bảo toàn vốn nhà nước;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác. Người quản lý trong doanh nghiệp nhà nước 100% vốn điều lệ chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn công. Việc cấm họ mở doanh nghiệp riêng bên ngoài góp phần hạn chế nguy cơ chuyển lợi nhuận, dự án hoặc cơ hội kinh doanh từ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang công ty tư nhân của cá nhân mình;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tham gia vào các giao dịch, hợp đồng thương mại và chịu trách nhiệm tài sản nên các cá nhân chưa đủ năng lực hành vi dân sự hoặc các tổ chức không có tư cách pháp nhân không đủ năng lực pháp lý và năng lực quản trị để có thể thành lập và quản lý doanh nghiệp;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng. Những đối tượng này không có điều kiện thực tế để trực tiếp điều hành, quản lý doanh nghiệp. Đồng thời, việc cấm những cá nhân này thành lập và quản lý doanh nghiệp sẽ bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và đối tác kinh doanh;
- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự. Nội dung này bảo đảm các biện pháp xử lý áp dụng đối với pháp nhân thương mại có hiệu lực thực tế, tránh việc tổ chức tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh trái với phạm vi bị hạn chế.
Nhìn chung, việc xác định các đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp là cơ sở để sàng lọc chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh, bảo đảm người quản lý đáp ứng các điều kiện pháp lý cần thiết. Những hạn chế này vừa góp phần bảo vệ tài sản công, phòng ngừa xung đột lợi ích, vừa nâng cao tính minh bạch và liêm chính trong hoạt động doanh nghiệp. Qua đó, pháp luật tạo nền tảng cho việc tổ chức, quản lý doanh nghiệp đúng khuôn khổ và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình hoạt động.
2. Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Những cá nhân muốn trở thành thành viên của Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và tư cách. Tiêu chuẩn và điều kiện của Hội đồng thành viên được ghi nhận cụ thể tại Điều 93 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 93. Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên
1. Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này.
2. Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.
3. Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.
4. Không phải là người quản lý doanh nghiệp thành viên.
5. Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc, Tổng giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
6. Chưa từng bị cách chức Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.
7. Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty."
Theo đó, thành viên Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng những tiêu chuẩn và điều kiện sau:
- Không thuộc đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Đây có thể được xem là điều kiện cần về tư cách và năng lực hành vi dân sự của người quản lý doanh nghiệp, qua đó, bảo đảm tính hợp pháp của quá trình bổ nhiệm và hạn chế rủi ro phát sinh;
- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp. Hội đồng thành viên là cơ quan đưa ra các quyết định chiến lược, phê duyệt kế hoạch kinh doanh hằng năm, dự án đầu tư phát triển của công ty nên bắt buộc người quản lý thuộc cơ quan này phải có năng lực chuyên môn và am hiểu thực tiễn ngành nghề để Hội đồng thành viên thực hiện tốt nhất vai trò, nhiệm vụ của mình;
- Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty. Điều này có thể bảo đảm tính độc lập, khách quan trong việc đưa ra quyết định quản trị và giám sát hoạt động điều hành doanh nghiệp;
- Không phải là người quản lý doanh nghiệp thành viên. Điều kiện này sẽ giúp thành viên Hội đồng thành viên của công ty khách quan hơn trong các hoạt động với doanh nghiệp thành viên như giao chỉ tiêu, phê duyệt ngân sách, phân bổ nguồn lực và kiểm tra, giám sát hoạt động của đơn vị thành viên;
- Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc, Tổng giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Cách tiếp cận này tạo sự linh hoạt trong bố trí nhân sự quản lý nhưng vẫn đặt ra giới hạn nhằm bảo đảm việc kiêm nhiệm được xem xét và chấp thuận bởi chủ thể có thẩm quyền. Đồng thời, việc không cho phép Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm nhiệm chức danh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc giúp phân định vai trò đứng đầu cơ quan quản lý với chức năng trực tiếp điều hành hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp, qua đó bảo đảm sự khách quan trong việc quản lý và giám sát cơ quan điều hành doanh nghiệp;
- Chưa từng bị cách chức Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước. Tiêu chuẩn này góp phần nâng cao chất lượng nhân sự, đề cao trách nhiệm của người quản lý và hạn chế việc bổ nhiệm lại những cá nhân đã từng bị áp dụng hình thức xử lý này đối với các chức danh nêu trên;
- Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty. Nội dung này cho phép các doanh nghiệp xác định thêm các yêu cầu phù hợp với đặc điểm tổ chức, quy mô và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm các điều kiện bổ sung phù hợp với pháp luật hiện hành, từ đó vừa đáp ứng yêu cầu thực tế, vừa bảo đảm tính hợp pháp trong quá trình lựa chọn và bổ nhiệm nhân sự.
Như vậy, các tiêu chuẩn và điều kiện đối với thành viên Hội đồng thành viên được xây dựng nhằm bảo đảm sự kết hợp giữa tư cách, năng lực chuyên môn, tính khách quan và quá trình công tác của người được bổ nhiệm. Việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này góp phần hạn chế xung đột lợi ích, nâng cao chất lượng quản trị và củng cố trách nhiệm của người giữ chức vụ. Qua đó, Hội đồng thành viên có cơ sở thực hiện tốt chức năng quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đề ra.
Trân trọng./.