Thu thập thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được quy định thực hiện như thế nào?

Thu thập thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có người thân vừa yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm sau khi điều trị bệnh và trong quá trình giải quyết hồ sơ, phía công ty bảo hiểm yêu cầu cung cấp thêm nhiều tài liệu như hồ sơ bệnh án, giấy ra viện và các giấy tờ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm. Nhân viên công ty cho biết các thông tin này sẽ được thu thập và cập nhật vào cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để phục vụ việc quản lý và đối chiếu thông tin sau này. Tuy nhiên, tôi thắc mắc không biết việc thu thập các thông tin này để đưa vào cơ sở dữ liệu được pháp luật quy định thực hiện theo nguyên tắc và cách thức như thế nào? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.

MỤC LỤC

1. Cơ sở dữ liệu trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm được quy định như thế nào?

2. Thu thập thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được quy định thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Cơ sở dữ liệu trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm được quy định như thế nào?

Trong hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo hiểm, việc xây dựng và vận hành hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả quản lý. Một trong những công cụ quan trọng phục vụ mục tiêu này là cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 11 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm 2025 như sau:

"Điều 11. Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

1. Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm cung cấp thông tin về bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và thông tin khác có liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

3. Việc thu thập, sử dụng, lưu giữ và cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải bảo đảm bảo mật, an ninh mạng, tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh.

Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân phải sử dụng thông tin được cung cấp đúng mục đích và không được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật.

4. Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

5. Chính phủ quy định chi tiết về xây dựng, thu thập, sử dụng, lưu giữ, quản lý và cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, việc kết nối giữa cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Theo đó, Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và giao Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống dữ liệu này nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia bảo hiểm.

Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm như doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm và tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu. Những thông tin này bao gồm dữ liệu về bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và các thông tin có liên quan khác.

Bên cạnh đó, việc thu thập, sử dụng, lưu giữ và cung cấp thông tin trong cơ sở dữ liệu phải bảo đảm các yêu cầu về bảo mật, an ninh mạng và tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và bí mật kinh doanh. Thông tin chỉ được sử dụng đúng mục đích và không được cung cấp cho bên thứ ba nếu không có sự chấp thuận của bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác để phục vụ việc quản lý và khai thác thông tin.

Như vậy, cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xây dựng và quản lý nhằm tạo nền tảng thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia bảo hiểm. Nội dung này góp phần nâng cao tính minh bạch, an toàn thông tin và hiệu quả quản lý trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

2. Thu thập thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được quy định thực hiện như thế nào?

Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm, do đó pháp luật đã quy định cụ thể về việc thu thập thông tin trong hệ thống dữ liệu này tại Điều 8 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 46/2023/NĐ-CP”) như sau:

Điều 8. Thu thập thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

1. Trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin:

a) Thông tin quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định này do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô cung cấp;

b) Thông tin quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Nghị định này do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô cung cấp;

c) Thông tin quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4, khoản 5 Điều 7 Nghị định này do Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) cập nhật;

d) Các tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện kết nối và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cho cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo quy định tại Nghị định này. Trường hợp phát hiện thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác, tổ chức cung cấp thông tin phải rà soát, chỉnh sửa, cập nhật và báo cáo Bộ Tài chính.

2. Hình thức cung cấp, cập nhật thông tin:

Việc cung cấp, cập nhật thông tin phục vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện dưới các hình thức trực tuyến tại Cổng thông tin điện tử của Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm hoặc dưới dạng các tệp dữ liệu điện tử.

3. Thời hạn cung cấp, cập nhật thông tin:

a) Thông tin quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định này được cung cấp, cập nhật trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày phát sinh thông tin;

b) Thời hạn cung cấp thông tin quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 7 Nghị định này thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều 106, khoản 5 Điều 138 và điểm k khoản 2 Điều 128 Luật Kinh doanh bảo hiểm về báo cáo và cung cấp thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và quy định của Chính phủ về chế độ báo cáo của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;

c) Thông tin quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này được cung cấp định kỳ hàng năm, chậm nhất 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính;

d) Thông tin quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định này được cung cấp, cập nhật định kỳ hàng tháng, chậm nhất 15 ngày kể từ ngày kết thúc tháng;

đ) Thông tin quy định tại khoản 5 Điều 7 Nghị định này được cập nhật ngay sau ngày xử phạt vi phạm hành chính.

4. Thông tin quy định tại các khoản 1, 3, 4 và 5 Điều 7 Nghị định này được cung cấp, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các thông tin phát sinh kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2024. Thông tin quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này được cung cấp, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các thông tin phát sinh kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.”

Dẫn chiếu đến khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ghi nhận như sau:

"Điều 7. Thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm các thông tin sau:

1. Nhóm thông tin về doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam:

a) Thông tin về giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép đặt văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;

b) Thông tin về tình hình tài chính và hoạt động nghiệp vụ tại các báo cáo:

Báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động nghiệp vụ, báo cáo tách nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm, báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và quản trị rủi ro, các báo cáo khác của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo quy định tại Điều 106 của Luật Kinh doanh bảo hiểm;

Báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động nghiệp vụ định kỳ, báo cáo đột xuất, cung cấp thông tin, số liệu khác của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Luật Kinh doanh bảo hiểm;

Báo cáo tài chính, báo cáo nghiệp vụ và báo cáo khác của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định.c) Thông tin về: Người quản lý, người kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam; thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, trưởng bộ phận nghiệp vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (sau đây gọi là người quản lý của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm); Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, Chuyên gia tính toán của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô. Thông tin bao gồm: Ngày bổ nhiệm, ngày miễn nhiệm hoặc không còn giữ chức vụ (nếu có); văn bằng, chứng chỉ, kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc các lĩnh vực khác tương ứng với từng chức danh quy định tại Điều 80, khoản 1 Điều 138 và khoản 3 Điều 149 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

2. Nhóm thông tin về bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực và phát sinh mới trong kỳ báo cáo, bao gồm:

a) Đối với bảo hiểm nhân thọ: Thông tin về số lượng người được bảo hiểm (chi tiết theo rủi ro được bảo hiểm, độ tuổi tham gia bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, năm hợp đồng bảo hiểm xảy ra rủi ro, giới tính, thói quen sinh hoạt ảnh hưởng tới sức khỏe), xác suất người được bảo hiểm còn sống theo từng năm và các thông tin khác có liên quan phục vụ xây dựng các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm;

b) Đối với bảo hiểm sức khỏe: Thông tin về số lượng hợp đồng bảo hiểm, số lượng người được bảo hiểm, số lượng hồ sơ bồi thường, tổng số tiền chi trả bảo hiểm (chi tiết theo độ tuổi, quyền lợi bảo hiểm) và các thông tin khác có liên quan phục vụ xây dựng các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm;

c) Đối với bảo hiểm phi nhân thọ: Thông tin về số lượng hợp đồng bảo hiểm, tổng số tiền bảo hiểm, số lượng hồ sơ bồi thường bảo hiểm, tổng số tiền bồi thường bảo hiểm (chi tiết theo đối tượng bảo hiểm; chủng loại và mục đích sử dụng) và các thông tin khác có liên quan phục vụ xây dựng các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm.

3. Nhóm thông tin về đại lý bảo hiểm: Các báo cáo về đào tạo và sử dụng đại lý bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 128 của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

4. Nhóm thông tin về thi, cấp chứng chỉ bảo hiểm, chứng chỉ phụ trợ bảo hiểm, chứng chỉ môi giới bảo hiểm, gồm: Thông tin định danh của người được cấp chứng chỉ; tên loại chứng chỉ; tên cơ sở đào tạo; mã số kỳ thi; quyết định phê duyệt kết quả thi.

5. Nhóm thông tin quản lý giám sát và xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Tên tổ chức, cá nhân bị xử phạt, số quyết định xử phạt, ngày xử phạt, hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có).

...”

Thứ nhất, về trách nhiệm cung cấp và cập nhật thông tin:

- Thông tin quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô cung cấp;

- Thông tin quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP  sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô cung cấp.

- Còn thông tin quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4, khoản 5 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP sẽ do Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) cập nhật;

Ngoài ra, các tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 có trách nhiệm thực hiện kết nối và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cho cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo quy định tại Nghị định số 46/2023/NĐ-CP. Trường hợp phát hiện thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác, tổ chức cung cấp thông tin phải rà soát, chỉnh sửa, cập nhật và báo cáo cho Bộ Tài chính.

Quy định này nhằm bảo đảm thông tin trong cơ sở dữ liệu được cung cấp đúng chủ thể, đầy đủ và chính xác, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động quản lý và giám sát thị trường bảo hiểm.

Thứ hai, về hình thức cung cấp và cập nhật thông tin.

Việc cung cấp, cập nhật thông tin phục vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện dưới các hình thức trực tuyến tại Cổng thông tin điện tử của Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm hoặc dưới dạng các tệp dữ liệu điện tử. Hình thức này thể hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tăng tính thuận tiện, nhanh chóng và giảm thủ tục hành chính cho các tổ chức tham gia cung cấp thông tin.

Thứ ba, về thời hạn cung cấp và cập nhật thông tin.

- Thông tin quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP được cung cấp, cập nhật trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày phát sinh thông tin.

- Về thời hạn cung cấp thông tin quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều 106, khoản 5 Điều 138 và điểm k khoản 2 Điều 128 Luật Kinh doanh bảo hiểm về báo cáo và cung cấp thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và quy định của Chính phủ về chế độ báo cáo của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.

Bên cạnh đó, các thông tin quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP được cung cấp định kỳ hàng năm, chậm nhất 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính; các thông tin quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP thì được cung cấp, cập nhật định kỳ hàng tháng, chậm nhất 15 ngày kể từ ngày kết thúc tháng; các thông tin quy định tại khoản 5 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP được cập nhật ngay sau ngày xử phạt vi phạm hành chính.

Việc quy định rõ thời hạn cung cấp và cập nhật thông tin giúp bảo đảm dữ liệu luôn được cập nhật kịp thời, phục vụ công tác quản lý, giám sát và minh bạch hóa thị trường bảo hiểm.

Thứ tư, về thời điểm phát sinh thông tin được cập nhật vào cơ sở dữ liệu.

- Thông tin quy định tại các khoản 1, 3, 4 và 5 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP được cung cấp, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các thông tin phát sinh kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

- Thông tin quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP được cung cấp, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các thông tin phát sinh kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.

Quy định này nhằm bảo đảm việc triển khai hệ thống dữ liệu được thực hiện theo lộ trình phù hợp, tạo điều kiện cho các tổ chức liên quan chuẩn bị và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp thông tin.

Như vậy, việc thu thập thông tin trong Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được pháp luật quy định cụ thể về chủ thể cung cấp thông tin, hình thức thực hiện, thời hạn cập nhật và thời điểm áp dụng. Những quy định này góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu bảo hiểm minh bạch, đầy đủ và chính xác, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như bảo đảm sự phát triển ổn định của thị trường bảo hiểm.

Trân trọng./.