THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 80/TB-VKSTC NGÀY 28/02/2025 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Ngày 22/5/2019, ông Lâm Quang N, bà Lê L (là thành viên của Công ty MT) ký Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp tại Công ty MT cho bà Nguyễn Thị D, ông Trần Văn S, ông Đoàn Văn S, giá chuyển nhượng là 140 tỷ đồng. Bên mua đã thanh toán được 90 tỷ đồng, số tiền còn phải thanh toán là 50 tỷ đồng.

Ngày 28/10/2019, các bên ký Biên bản thanh lý Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019 có nội dung: Hai bên thống nhất hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019. Các bên sẽ cùng nhau thương lượng, thỏa thuận, giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng; Đồng thời ký Biên bản về việc thỏa thuận giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019 với nội dung: Các bên thống nhất giá trị chuyển nhượng là 9 tỷ đồng và bên mua đã thanh toán xong. Bên cạnh đó còn ký Giấy nhận nợ, ghi nhận bà D còn nợ ông N số tiền 50 tỷ đồng và thỏa thuận thanh toán làm 3 lần.

Sau ngày ký ba văn bản trên:

- Bà D vẫn tiếp tục thanh toán cho ông N số tiền là 1.555.348.459 đồng qua Ngân hàng với nội dung thanh toán là "TT GOC LAI LAN 3 TẠI KHOAN B DIEU 4.1 THEO HD CHUYEN NHUONG" (thanh toán vào ngày 08/11/2019 và ngày 12/12/2019)

- Ngày 12/12/2019, bà D có văn bản gửi ông N với nội dung: Hôm nay, chúng tôi chuyên tiền cho Ông theo như thỏa thuận lần thứ 03 tại khoản b Điều 4.1 Hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 22/5/2019 ... với số tiền chuyển như sau:

1+2-3-4 1.555.348.459 VNĐ (trong đó thừa nhận cả tiền lãi phát sinh).

- Hồ sơ có Văn bản ngày 10/12/2019, bà D thừa nhận do gặp khó khăn về tài chính nên chưa thanh toán theo tiến độ thanh toán lần thứ ba theo khoản b Điều 4 Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019.

Như vậy, mặc dù các bên có ký Biên bản thanh lý, hủy bỏ đối với Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 22/5/2019. Nhưng các tài liệu chứng cứ trên cho thấy thực tế, bà D vẫn thực hiện thanh toán tiếp khoản nợ 50 tỷ đồng cho ông N. Do đó, nếu bà D không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh giữa bà D với ông N, bà Lê L không còn tồn tại giao dịch nào khác thì phải xác định số tiền 50 tỷ đồng theo Giấy nhận nợ ngày 28/10/2019 là xuất phát từ Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019.

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ căn cứ vào Biên bản thanh lý Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019 và Biên bản về việc thỏa thuận giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ngày 22/5/2019 xác định bên mua đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán, từ đó bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Quang L và bà Lê L là đánh giá chứng cứ không đầy đủ, không toàn diện và không chính xác, vi phạm khoản 1 Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Lâm Quang N và bà Lê L.

Trên đây là vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong việc giải quyết vụ án tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố H trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án đã không phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các cấp cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự.