Thông báo rút kinh nghiệm số 35/TB-VKSTC ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại về "Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ"
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 35/TB-VKSTC NGÀY 28/02/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VỀ "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ"
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Thứ nhất, Tòa án hai cấp buộc Công ty Q phải có nghĩa vụ trả cho Công ty C phí dịch vụ lai dắt tàu từ ngày 01/7/2017 đến hết ngày 05/12/2018 là 24.438.303.936 đồng (thuế giá trị gia tăng 0%). Công ty C có nghĩa vụ xuất hóa đơn cho Công ty Q sau khi Công ty C nhận được số tiền 24.438.303.936 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 4.390.748.000 đồng là không có căn cứ, bởi lẽ như sau:
Theo hồ sơ vụ án và tài liệu mà Công ty Q cung cấp cho thấy Công ty Q có đăng ký kinh doanh ngành nghề lai dắt tàu biển. Do đó Công ty Q có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 và Điều 257 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015.
Công ty Q ký hợp đồng cung cấp dịch vụ lai dắt với các Hãng tàu, Đại lý hàng hải theo Biểu cước dịch vụ cảng biển do Công ty Q ban hành phù hợp với quy định về hợp đồng lai dắt tàu biển tại Điều 179 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 (nay là Điều 258 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015).
Quyết định số 3863 của Bộ Giao thông vận tải là ban hành về biểu khung giá dịch vụ bốc dỡ Container và dịch vụ lai dắt tại Cảng biển Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/7/2017) nên Công ty Q được hưởng theo biểu khung giá dịch vụ lai dắt tại Quyết định số 3863 khi ký các hợp đồng cung cấp dịch vụ lai dắt với các Hãng tàu, Đại lý hàng hải.
Hợp đồng kinh tế số 274/CUULONG/2016/01.02 ngày 12/10/2016 và 04 Phụ lục hợp đồng (Phụ lục số 01 ngày 01/01/2017; số 02 ngày 01/7/2017; số 03 ngày 23/4/2018; số 04 ngày 07/5/2018) giữa Công ty C và Công ty Q về việc “Thuê tàu lai vào khai thác tại cảng Q" là thuê tàu lai dắt, không phải là dịch vụ lai dắt nên đơn giá do hai bên thỏa thuận. Hai bên không có phụ lục điều chỉnh đơn giá lai dắt tàu nội, tàu ngoại cũng như không có thỏa thuận Công ty Q phải thanh toán cho Công ty C toàn bộ 100% tiền thu của khách hàng.
Công ty C là bên chủ động chấm dứt Hợp đồng 274 bằng việc ban hành Văn bản số 72/CV-CL ngày 04/12/2018 thông báo sẽ kết thúc thực hiện Hợp đồng 274 với Công ty Q vào ngày 05/12/2018. Sau ngày 05/12/2018, thực hiện chỉ đạo của Cảng vụ Hàng hải QN, để đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải thông suốt lưu thông hàng hóa, nên ngày 07/12/2018 Công ty Q ban hành Văn bản số 963/QNP-KD thông báo cho các Hãng tàu liên lạc trực tiếp với Công ty C để được hỗ trợ lai dắt và Công ty Q buộc phải chấp nhận để Công ty C hưởng trọn 100% tiền thu của các tàu khách hàng từ ngày 05/12/2018 đến ngày 25/12/2018 đối với 21 lượt lai dắt là giải pháp tình thế chứ không phải Công ty Q chấp nhận việc tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Như vậy, Công ty Q có kinh doanh nghành nghề lai dắt tàu biển, trực tiếp ký hợp đồng cung cấp dịch vụ lai dắt với các Hãng tàu, Đại lý hàng hải sau đó ký Hợp đồng 274 với Công ty C nên Công ty C không phải là đối tượng được áp dụng giá dịch vụ lai dắt theo Quyết định 3863 mà chỉ được hưởng đơn giá theo giá hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng 274.
Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm nhận định Công ty Q là doanh nghiệp không đủ điều kiện, chức năng để thực hiện dịch vụ lai dắt tàu biển; Công ty C là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lai dắt tàu, nên Công ty C được thu phí lai dắt tàu theo khung giá dịch vụ lai dắt tàu của Quyết định số 3863, còn Công ty Q không phải là doanh nghiệp cung cấp địch vụ lai dắt tàu, nên Công ty Q không phải là đối tượng được hưởng số tiền thu phí lai dắt theo Quyết định số 3863; từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C, buộc Công ty Q phải thanh toán phí dịch vụ lai dắt (từ ngày 01/7/2017 đến ngày 05/12/2018) theo Quyết định số 3863 với số tiền 24.438.303.936 đồng (76.318.155.736 đồng - 51.879.851.800 đồng) và tiền lãi của số tiền này là nhầm lẫn khái niệm thuê tàu lai dắt và khái niệm làm dịch vụ lai dắt, không đúng thỏa thuận của hai bên và áp dụng sai pháp luật gây thiệt hại của Công ty Q.
Thứ hai, Tòa án cấp cấp phúc thẩm buộc Công ty Q phải bồi thường thiệt hại cho Công ty C trong 02 năm (năm 2019 và năm 2020) với số tiền là 24.651.366.128 đồng và buộc Công ty Q tiếp tục thực hiện Hợp đồng kinh tế số 274 ngày 12/10/2016 đã ký kết với Công ty C cũng là không đúng, bởi lẽ sau:
Do Công ty C đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng từ ngày 05/12/2018 nên Hợp đồng 274 chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 311 Luật Thương mại năm 2005; việc thực hiện 21 lượt lai dắt từ ngày 05/12/2018 đến ngày 25/12/2018, Công ty Q thu của các Hãng tàu, Đại lý hàng hải bao nhiêu thì trả cho Công ty C bấy nhiêu chỉ là giải pháp tỉnh thế, không phải là việc đồng ý tiếp tục thực hiện Hợp đồng 274 vì đơn giá Hợp đồng 274 là do hai bên tự nguyện thỏa thuận; Công ty Q không có lỗi trong việc thanh toán, không vi phạm Hợp đồng 274 nên không gây thiệt hại cho Công ty C; việc Công ty Q cung cấp điện, nước cho tàu của Công ty C theo Hợp đồng 274 không phải là hợp đồng song vụ mà là việc tàu sử dụng điện, nước thì phải trả tiền. Tòa án hai cấp buộc Công ty Q phải bồi thường cho Công ty C thiệt hại phát sinh trong 02 năm 2019 và 2020 và buộc Công ty Q tiếp tục thực hiện Hợp đồng 274 là không có căn cứ, gây thiệt hại cho Công ty Q.
Vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh BĐ và Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐN trong việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại không được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BĐ và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại ĐN phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc thông báo phát hiện vi phạm đề nghị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Đề nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, VKSND tối cao thông báo đến VKSND cấp cao, cấp tỉnh, cấp huyện cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại tương tự.