Thông báo rút kinh nghiệm số 19/TB-VC2-V3 ngày 12/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc áp dụng pháp luật trong công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính liên quan đến khiếu kiện thông báo thuế

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 19/TB-VC2-V3 NGÀY 12/02/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN KHIẾU KIỆN THÔNG BÁO THUẾ

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Theo quy định tại khoản 2 Mục V Nghị định 201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước thì việc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk cấp đất cho ông Trịnh Văn Hùng theo Giấy cho sử dụng đất số 837/SDĐ ngày 15/10/1984 là không đúng thẩm quyền.

Hộ gia đình ông Hùng được Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy sửdụng đất số 837/SDĐ ngày 15/10/1984, đến năm 1992 Ông đã làm nhà ở ổn định trước ngày 15/10/1993. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 thì thu tiền sử dụng đất bằng 40% tiền sử dụng đất theo giá đất ở đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở tại địa phương theo giá đất quy định tại Bảng giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Do đó, trường hợp ông Hùng phải nộp tiền sử dụng đất bằng 40% đối với diện tích được cấp trong hạn mức theo bảng giá đất tại thời điểm công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nhưng cấp sơ thẩm cho rằng: Hộ ông Hùng làm thủ tục cấp GCNQSĐĐ thuộc trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định “Trường hợp đã được sử dụng đất ổn định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất”, cụ thể: Ông Hùng đã làm nhà từ năm 1992 nhưng không sử dụng, đến năm 2003 mới làm nhà cấp 4 để ở, sử dụng ổn dịnh đến nay, theo đó ông Hùng thuộc trường hợp đất đã được sửdụng ổn định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 nên thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở theo giá đất quy định tại bảng giá đất của địa phương là chưa chính xác.

Ngược lại, bản án hành chính phúc thẩm lại nhận định: Giấy cho sử dụng đất số 837/SDĐ ngày 15/10/1984 mà Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk cấp cho hộ ông Hùng là một trong những giấy tờ thuộc quy định tại điểm g khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 cụ thể: “Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định của Chính phủ” nên hộ ông Trịnh Văn Hùng thuộc trường hợp sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất để từ đó sửa bản án hành chính sơ thẩm theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của ông Trịnh Văn Hùng là không đúng quy định pháp luật,

Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tỉnh Đắk Lắk chưa thu thập, đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện nhưng lại có phán quyết trái ngược nhau về cùng một nội dung là chưa có sự thống nhất về nhận thức trong áp dụng pháp luật về đất đai. Do đó, Quyết định giám đốc thẩm số 09/2019/HC-GĐT ngày 29/10/2019 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 74/QĐKNGĐT-VKS-HC ngày 21/8/2019 của Viện Trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng theo hướng hủy Bản án HCPT số 02/2019/HC-PT ngày 28/2/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để xét xử phúc thẩm lại vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung cần rút kinh nghiệm nghiệp vụ trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các địa phương trong khu vực để tham khảo rút kinh nghiệm chung./.