Rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì? Đánh giá rủi ro bảo hiểm là gì? Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì? Đánh giá rủi ro bảo hiểm là gì? Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có tham gia một hợp đồng bảo hiểm nhưng gần đây công việc và môi trường sống của tôi có nhiều thay đổi nên tôi lo không biết có ảnh hưởng gì đến quyền lợi bảo hiểm hay không. Trước giờ tôi cũng chưa hiểu rõ các khái niệm liên quan nên khá hoang mang khi bên công ty bảo hiểm có nhắc đến việc đánh giá lại rủi ro. Ngoài ra, tôi cũng nghe nói nếu mức độ rủi ro thay đổi thì có thể phải điều chỉnh hợp đồng hoặc phí bảo hiểm. Vậy rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì? Đánh giá rủi ro bảo hiểm là gì? Việc thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm được thực hiện như thế nào? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.
MỤC LỤC
1. Rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì?
2. Đánh giá rủi ro bảo hiểm là gì?
3. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
1. Rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì?
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, “rủi ro” là khái niệm nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình thiết kế sản phẩm, tính phí và quản trị hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Việc nhận diện đúng rủi ro và phân biệt rủi ro bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm an toàn tài chính và khả năng thực hiện cam kết với khách hàng. Căn cứ tại khoản 2, 6 Điều 3 Thông tư số 70/2022/TT-BTC ngày 16/11/2022 của Bộ Tài chính quy định về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 70/2022/TT-BTC”) xác định:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
2. Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài.
...
6. Rủi ro bảo hiểm là các rủi ro phát sinh do biến động các yếu tố kỹ thuật liên quan đến tính phí bảo hiểm và trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, bao gồm:
a) Rủi ro liên quan đến tính phí bảo hiểm: Việc thiết lập các giả định tính phí không phù hợp dẫn đến phí bảo hiểm tính toán không đủ để chi trả các quyền lợi bảo hiểm cam kết trong thời hạn hợp đồng và bù đắp các chi phí hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài. Các giả định tính phí bao gồm: Tỷ lệ rủi ro tử vong, tỷ lệ rủi ro sống thọ, tỷ lệ bồi thường, tỷ lệ chi phí, lãi suất đầu tư, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng và các giả định khác sử dụng trong mô hình tính phí bảo hiểm;
b) Rủi ro liên quan đến trích lập dự phòng bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ: Việc trích lập dự phòng bồi thường không đủ để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
c) Rủi ro liên quan đến thảm họa: Là rủi ro khi tỷ lệ bồi thường thực tế lớn, vượt quá giá định tính phí do các nguyên nhân dịch bệnh, thảm họa gây ra.”
Theo đó, rủi ro có thể hiểu là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài. Như vậy, rủi ro không chỉ là sự kiện bất lợi có thể xảy ra, mà còn gắn trực tiếp với hậu quả tiêu cực đối với hoạt động và sự ổn định tài chính của doanh nghiệp.
Còn đối với rủi ro bảo hiểm, đây có thể hiểu là các rủi ro phát sinh do biến động các yếu tố kỹ thuật liên quan đến tính phí bảo hiểm và trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, bao gồm:
- Rủi ro liên quan đến tính phí bảo hiểm: Việc thiết lập các giả định tính phí không phù hợp dẫn đến phí bảo hiểm tính toán không đủ để chi trả các quyền lợi bảo hiểm cam kết trong thời hạn hợp đồng và bù đắp các chi phí hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài. Các giả định tính phí bao gồm: Tỷ lệ rủi ro tử vong, tỷ lệ rủi ro sống thọ, tỷ lệ bồi thường, tỷ lệ chi phí, lãi suất đầu tư, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng và các giả định khác sử dụng trong mô hình tính phí bảo hiểm;
- Rủi ro liên quan đến trích lập dự phòng bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ: Việc trích lập dự phòng bồi thường không đủ để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
- Rủi ro liên quan đến thảm họa: Là rủi ro khi tỷ lệ bồi thường thực tế lớn, vượt quá giá định tính phí do các nguyên nhân dịch bệnh, thảm họa gây ra.
Như vậy, rủi ro là khả năng phát sinh tổn thất ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp, còn rủi ro bảo hiểm là dạng rủi ro chuyên biệt xuất phát từ chính kỹ thuật kinh doanh bảo hiểm. Việc phân định rõ hai khái niệm này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn giúp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và củng cố niềm tin của người tham gia bảo hiểm đối với thị trường.
2. Đánh giá rủi ro bảo hiểm là gì?
Căn cứ tại khoản 9 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
9. Đánh giá rủi ro bảo hiểm là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm cơ sở tham gia bảo hiểm, tái bảo hiểm.”
Theo đó, đánh giá rủi ro bảo hiểm có thể hiểu là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm cơ sở tham gia bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Từ đó, ta có thể thấy, đánh giá rủi ro bảo hiểm bao gồm nhiều bước liên kết chặt chẽ với nhau. Trước hết là việc nhận diện rủi ro, tức xác định những nguy cơ có thể gây ra tổn thất. Tiếp theo là phân loại rủi ro nhằm sắp xếp các rủi ro theo nhóm, mức độ hoặc đặc điểm để thuận tiện cho việc xử lý. Sau đó là đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, qua đó xác định khả năng xảy ra và mức độ thiệt hại có thể phát sinh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp bảo hiểm còn xem xét việc quản trị rủi ro của bên tham gia bảo hiểm, ví dụ như các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tổn thất đã được áp dụng. Kết quả của quá trình đánh giá này đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định có chấp nhận bảo hiểm hay không, xác định mức phí bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm cũng như phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
3. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm, các yếu tố làm cơ sở tính phí và đánh giá rủi ro có thể thay đổi theo thời gian. Những biến động này có thể làm tăng hoặc giảm mức độ rủi ro được bảo hiểm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên. Vì vậy, pháp luật đã nêu cụ thể cơ chế xử lý khi mức độ rủi ro thay đổi nhằm bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm tại Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 23. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm
1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện một trong các nội dung sau đây:
a) Giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
b) Tăng số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
c) Kéo dài thời hạn bảo hiểm;
d) Mở rộng phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không chấp nhận yêu cầu tại khoản 1 Điều này, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
3. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thực hiện một trong các nội dung sau đây:
a) Tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
b) Giảm số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
c) Rút ngắn thời hạn bảo hiểm;
d) Thu hẹp phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
4. Trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận yêu cầu tại khoản 3 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.”
Theo đó, khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện một trong các nội dung sau đây:
- Giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
- Tăng số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
- Kéo dài thời hạn bảo hiểm;
- Mở rộng phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
Đây là cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên mua khi mức độ rủi ro thực tế thấp hơn so với dự kiến ban đầu. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không chấp nhận yêu cầu trên, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thực hiện một trong các nội dung sau đây:
- Tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
- Giảm số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
- Rút ngắn thời hạn bảo hiểm;
- Thu hẹp phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
Đây là quyền hợp lý nhằm giúp doanh nghiệp bảo hiểm kiểm soát mức độ rủi ro gia tăng và bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính. Nếu bên mua bảo hiểm không chấp nhận những yêu cầu này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.
Vậy là, việc thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm được thực hiện dựa trên nguyên tắc tương xứng giữa rủi ro và quyền lợi bảo hiểm, thông qua cơ chế điều chỉnh hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng. Quy định này không chỉ bảo đảm tính công bằng giữa các bên mà còn giúp duy trì sự ổn định của quan hệ bảo hiểm trong bối cảnh rủi ro luôn biến động, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Trân trọng./.