Cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được căn cứ vào đâu?
Cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được căn cứ vào đâu?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu để mua bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe thì thấy mức phí của mỗi sản phẩm, mỗi công ty lại khác nhau nên khá băn khoăn. Tôi muốn biết khi xây dựng mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài sẽ căn cứ vào những yếu tố nào, có phải dựa trên độ tuổi, tình trạng sức khỏe, rủi ro hay số liệu thống kê hay không? Và pháp luật quy định cơ sở tính phí như thế nào để bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Bảo hiểm bao gồm các loại hình nào?
Trả lời:
1. Bảo hiểm bao gồm các loại hình nào?
Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức, cung cấp và tham gia bảo hiểm, khoản 1 Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã nêu rõ các loại hình bảo hiểm như sau:
"Điều 7. Các loại hình bảo hiểm
1. Các loại hình bảo hiểm bao gồm:
a) Bảo hiểm nhân thọ;
b) Bảo hiểm sức khỏe;
c) Bảo hiểm phi nhân thọ.
...”
Theo đó, có ba loại hình bảo hiểm gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm phi nhân thọ. Chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng, bảo hiểm nhân thọ là là loại hình bảo hiểm gắn liền với tuổi thọ, tính mạng của con người; bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm nhằm bảo vệ người tham gia trước các rủi ro liên quan đến sức khỏe như bệnh tật, tai nạn, thương tật hoặc chi phí khám chữa bệnh; còn bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm không gắn trực tiếp với tuổi thọ con người mà chủ yếu bảo vệ tài sản, trách nhiệm dân sự và các rủi ro khác.
Như vậy, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đã xác định rõ ba loại hình bảo hiểm cơ bản. Mỗi loại hình bảo hiểm có phạm vi bảo vệ và mục đích khác nhau nhưng đều hướng đến việc hỗ trợ cá nhân, tổ chức giảm thiểu rủi ro và ổn định tài chính khi xảy ra những sự kiện bất lợi. Việc phân loại này không chỉ tạo cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm mà còn giúp người tham gia dễ dàng lựa chọn sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nhu cầu bảo vệ của mình trong cuộc sống và hoạt động kinh tế.
2. Cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được căn cứ vào đâu?
Phí bảo hiểm không được doanh nghiệp bảo hiểm ấn định một cách tùy ý mà phải được tính toán trên cơ sở khoa học, dữ liệu thống kê và các giới hạn pháp lý nhằm bảo đảm quyền lợi của bên mua bảo hiểm cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, căn cứ tại Điều 22 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) được sửa đổi bởi Điều 5 Thông tư số 96/2026/TT-BTC ngày 02/7/2026 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 67/2023/TT-BTC ghi nhận cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài như sau:
“Điều 22. Cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
Cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) bao gồm:
1. Các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm:
a) Đối với tỷ lệ rủi ro tử vong, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể sử dụng một trong số các nguồn sau:
- Bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này; các tỷ lệ điều chỉnh dựa trên bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 này;
- Bảng tỷ lệ tử vong được xây dựng dựa trên số liệu thực tế triển khai của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong thời gian tối thiểu 10 năm;
- Các bảng tỷ lệ tử vong do công ty mẹ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp;
Trong trường hợp tỷ lệ tử vong do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài sử dụng cao hơn 70% tỷ lệ tử vong theo bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải giải trình được tính hợp lý, điểm đặc trưng của nhóm khách hàng dự kiến áp dụng tỷ lệ cao hơn đó.
b) Đối với các tỷ lệ rủi ro khác ngoài tỷ lệ rủi ro tử vong (như tỷ lệ nằm viện, tỷ lệ thương tật, tỷ lệ tai nạn, tỷ lệ chi phí y tế, tỷ lệ bệnh hiểm nghèo…), doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể sử dụng một trong số các nguồn sau:
- Tỷ lệ rủi ro do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công bố;
- Tỷ lệ rủi ro được xây dựng dựa trên số liệu thực tế triển khai của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong thời gian tối thiểu 05 năm liên tiếp;
- Tỷ lệ rủi ro do công ty mẹ doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp, do các doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp, trong trường hợp này doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện về xếp hạng được quy định tại khoản 2 Điều 33 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm cung cấp tỷ lệ rủi ro hợp đồng tái bảo hiểm và phải có kinh nghiệm khai thác tái bảo hiểm đối với loại rủi ro này tại thị trường Việt Nam hoặc Châu Á.
Trường hợp có điều chỉnh tỷ lệ rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải có giải trình lý do. Việc sử dụng tỷ lệ rủi ro do các doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp phải phù hợp với các quyền lợi bảo hiểm tại quy tắc, điều kiện, điều khoản của sản phẩm bảo hiểm.
2. Các giả định về chi phí triển khai sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài:
a) Các giả định về chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm (chi phí cố định và chi phí biến đổi) được xác định dựa trên số liệu thống kê 3 năm liên tiếp liền kề năm nộp hồ sơ và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoạt động chưa đủ 3 năm thì giả định về chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên kế hoạch kinh doanh 5 năm;
b) Đối với các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn từ 01 năm trở xuống (bao gồm hợp đồng sản phẩm có thời hạn 01 năm và tái tục hàng năm): doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đảm bảo các giả định về chi phí và lợi nhuận tính vào phí bảo hiểm không được vượt quá 60% tổng phí bảo hiểm;
c) Đối với các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe có thời hạn trên 01 năm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo giá trị hiện tại của các giả định về chi phí và lợi nhuận đưa vào tính phí không vượt quá 55% tổng phí bảo hiểm.
3. Các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí:
a) Phí ban đầu của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư không vượt quá quy định sau:
Phí ban đầu của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đóng phí định kỳ:
|
Năm đóng phí |
Năm 1 |
Năm 2 |
Năm 3 đến năm 5 |
Năm 6 đến năm 10 |
Từ năm 11 trở đi |
|
Tỷ lệ phí ban đầu/phí bảo hiểm cơ bản năm |
50% |
30% |
20% |
2% |
0% |
Phí ban đầu của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đóng phí một lần: 10% phí bảo hiểm đóng một lần.
Phí ban đầu đối với phần phí bảo hiểm đóng thêm: 1,5% phí bảo hiểm đóng thêm của từng năm hợp đồng và trong 10 năm đầu của hợp đồng bảo hiểm.
b) Phí ban đầu của sản phẩm bảo hiểm hưu trí không vượt quá 5% tổng phí bảo hiểm thu được trong năm tài chính. Phí ban đầu đối với phần phí bảo hiểm đóng thêm không vượt quá 1,5% phí bảo hiểm đóng thêm của từng năm hợp đồng và trong 10 năm đầu của hợp đồng bảo hiểm;
c) Phí rủi ro của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí thực hiện theo quy định sau:
- Đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, sản phẩm bảo hiểm hưu trí cung cấp quyền lợi tử vong và thương tật toàn bộ vĩnh viễn: phí rủi ro không vượt quá 80% tỷ lệ tử vong theo bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này nhân với số tiền bảo hiểm chịu rủi ro.
- Đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư chỉ cung cấp quyền lợi bảo hiểm tử vong: phí rủi ro không vượt quá 72% tỷ lệ tử vong theo bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này nhân với số tiền bảo hiểm chịu rủi ro.
Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng phí rủi ro cao hơn mức quy định nêu trên thì phải giải trình được tính hợp lý, điểm đặc trưng của nhóm khách hàng dự kiến áp dụng phí rủi ro cao hơn đó.
d) Phí quản lý quỹ của quỹ liên kết chung và quỹ hưu trí tự nguyện không vượt quá 2%/năm. Đối với quỹ liên kết đơn vị, phí quản lý quỹ tối đa được căn cứ vào chính sách đầu tư của từng quỹ liên kết đơn vị và không vượt quá 2,5%/năm đối với các quỹ có tỷ trọng đầu tư không thấp hơn 70% vào cổ phiếu, 1,5%/năm đối với các quỹ có tỷ trọng đầu tư không thấp hơn 70% vào trái phiếu và 1%/năm đối với các quỹ có tỷ trọng đầu tư không thấp hơn 70% vào tiền gửi và các tài sản có thu nhập cố định khác. Đối với các quỹ liên kết đơn vị có tỷ trọng đầu tư khác, mức phí quản lý quỹ tối đa được tính bằng bình quân gia quyền của các tài sản đầu tư trong quỹ với mức tối đa của các quỹ nêu trên.
4. Trường hợp sửa đổi, bổ sung cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe đã đăng ký với Bộ Tài chính theo quy định tại Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải chứng minh được tính phù hợp của việc sửa đổi, bổ sung căn cứ trên số liệu thống kê của doanh nghiệp, chi nhánh trong thời gian triển khai sản phẩm và có xác nhận của chuyên gia tính toán.
5. Trường hợp sửa đổi, bổ sung cơ sở tính phí của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe đã được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi Thông tư này có hiệu lực, những nội dung sửa đổi, bổ sung tại cơ sở tính phí theo đề nghị của doanh nghiệp phải phù hợp với các quy định tại Thông tư này.”
Theo đó, cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) bao gồm:
Thứ nhất, các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm.
Đối với tỷ lệ rủi ro tử vong, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể sử dụng một trong số các nguồn sau:
- Bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư số 67/2023/TT-BTC; các tỷ lệ điều chỉnh dựa trên bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 này;
- Bảng tỷ lệ tử vong được xây dựng dựa trên số liệu thực tế triển khai của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong thời gian tối thiểu 10 năm;
- Các bảng tỷ lệ tử vong do công ty mẹ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp.
Nếu tỷ lệ tử vong do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài sử dụng cao hơn 70% tỷ lệ tử vong theo bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải giải trình được tính hợp lý, điểm đặc trưng của nhóm khách hàng dự kiến áp dụng tỷ lệ cao hơn đó.
Quy định này tạo sự linh hoạt cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn cơ sở định phí phù hợp với dữ liệu và kinh nghiệm khai thác của mình, nhưng vẫn đặt ra cơ chế kiểm soát nhằm bảo đảm tính khách quan và có căn cứ khoa học. Qua đó, mức phí bảo hiểm được xây dựng sát với mức độ rủi ro thực tế, góp phần bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và duy trì khả năng thanh toán, an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.
Còn đối với các tỷ lệ rủi ro khác ngoài tỷ lệ rủi ro tử vong (như tỷ lệ nằm viện, tỷ lệ thương tật, tỷ lệ tai nạn, tỷ lệ chi phí y tế, tỷ lệ bệnh hiểm nghèo…), doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể sử dụng một trong số các nguồn sau:
- Tỷ lệ rủi ro do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công bố;
- Tỷ lệ rủi ro được xây dựng dựa trên số liệu thực tế triển khai của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong thời gian tối thiểu 05 năm liên tiếp;
- Tỷ lệ rủi ro do công ty mẹ doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp, do các doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp, trong trường hợp này doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện về xếp hạng được quy định tại khoản 2 Điều 33 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm cung cấp tỷ lệ rủi ro hợp đồng tái bảo hiểm và phải có kinh nghiệm khai thác tái bảo hiểm đối với loại rủi ro này tại thị trường Việt Nam hoặc Châu Á.
Nếu có sự điều chỉnh tỷ lệ rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải có giải trình lý do. Việc sử dụng tỷ lệ rủi ro do các doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp phải phù hợp với các quyền lợi bảo hiểm tại quy tắc, điều kiện, điều khoản của sản phẩm bảo hiểm.
Nội dung này hướng đến việc bảo đảm các giả định về rủi ro được xây dựng trên cơ sở dữ liệu khách quan, có độ tin cậy và phản ánh đúng đặc điểm của từng loại hình bảo hiểm. Đồng thời, cơ chế yêu cầu giải trình khi điều chỉnh tỷ lệ rủi ro và kiểm soát nguồn dữ liệu sử dụng giúp nâng cao tính minh bạch trong hoạt động định phí, hạn chế việc áp dụng các giả định thiếu cơ sở, qua đó bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm và duy trì sự an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.
Thứ hai, các giả định về chi phí triển khai sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài:
- Các giả định về chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm (chi phí cố định và chi phí biến đổi) được xác định dựa trên số liệu thống kê 3 năm liên tiếp liền kề năm nộp hồ sơ và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoạt động chưa đủ 3 năm thì giả định về chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên kế hoạch kinh doanh 5 năm;
- Đối với các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn từ 01 năm trở xuống (bao gồm hợp đồng sản phẩm có thời hạn 01 năm và tái tục hàng năm): doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đảm bảo các giả định về chi phí và lợi nhuận tính vào phí bảo hiểm không được vượt quá 60% tổng phí bảo hiểm;
- Đối với các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe có thời hạn trên 01 năm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo giá trị hiện tại của các giả định về chi phí và lợi nhuận đưa vào tính phí không vượt quá 55% tổng phí bảo hiểm.
Với cơ sở này bảo đảm việc xác định chi phí và lợi nhuận trong cơ cấu phí bảo hiểm được xây dựng trên cơ sở dữ liệu hoạt động thực tế và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, thay vì các giả định mang tính chủ quan. Đồng thời, việc giới hạn tỷ lệ chi phí và lợi nhuận được tính vào phí bảo hiểm góp phần kiểm soát mức phí hợp lý, hạn chế tình trạng thu phí quá cao, bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm và tăng cường tính minh bạch, bền vững của hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Thứ ba, các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí:
- Một là, phí ban đầu của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư không vượt quá quy định sau:
+ Phí ban đầu của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đóng phí định kỳ: Năm đầu tiên là có tỷ lệ phí ban đầu/phí bảo hiểm cơ bản năm là 50%, năm thứ hai là 30%, từ năm thứ ba đến năm thứ năm là 20%, năm thứ sáu đến năm thứ mười là 2% và từ năm thứ mười một trở đi là 0%.
+ Phí ban đầu của các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đóng phí một lần: 10% phí bảo hiểm đóng một lần.
+ Phí ban đầu đối với phần phí bảo hiểm đóng thêm: 1,5% phí bảo hiểm đóng thêm của từng năm hợp đồng và trong 10 năm đầu của hợp đồng bảo hiểm.
- Hai là, phí ban đầu của sản phẩm bảo hiểm hưu trí không vượt quá 5% tổng phí bảo hiểm thu được trong năm tài chính. Phí ban đầu đối với phần phí bảo hiểm đóng thêm không vượt quá 1,5% phí bảo hiểm đóng thêm của từng năm hợp đồng và trong 10 năm đầu của hợp đồng bảo hiểm;
- Ba là, phí rủi ro của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí thực hiện theo quy định sau:
+ Đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, sản phẩm bảo hiểm hưu trí cung cấp quyền lợi tử vong và thương tật toàn bộ vĩnh viễn: phí rủi ro không vượt quá 80% tỷ lệ tử vong theo bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này nhân với số tiền bảo hiểm chịu rủi ro.
- Đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư chỉ cung cấp quyền lợi bảo hiểm tử vong: phí rủi ro không vượt quá 72% tỷ lệ tử vong theo bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư số 67/2023/TT-BTC nhân với số tiền bảo hiểm chịu rủi ro. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng phí rủi ro cao hơn mức quy định nêu trên thì phải giải trình được tính hợp lý, điểm đặc trưng của nhóm khách hàng dự kiến áp dụng phí rủi ro cao hơn đó.
- Bốn là, phí quản lý quỹ của quỹ liên kết chung và quỹ hưu trí tự nguyện không vượt quá 2%/năm. Đối với quỹ liên kết đơn vị, phí quản lý quỹ tối đa được căn cứ vào chính sách đầu tư của từng quỹ liên kết đơn vị và không vượt quá 2,5%/năm đối với các quỹ có tỷ trọng đầu tư không thấp hơn 70% vào cổ phiếu, 1,5%/năm đối với các quỹ có tỷ trọng đầu tư không thấp hơn 70% vào trái phiếu và 1%/năm đối với các quỹ có tỷ trọng đầu tư không thấp hơn 70% vào tiền gửi và các tài sản có thu nhập cố định khác. Đối với các quỹ liên kết đơn vị có tỷ trọng đầu tư khác, mức phí quản lý quỹ tối đa được tính bằng bình quân gia quyền của các tài sản đầu tư trong quỹ với mức tối đa của các quỹ nêu trên.
Việc xác định mức trần đối với các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí nhằm bảo đảm tính minh bạch, hợp lý trong việc thu phí và bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Đồng thời, các giới hạn này giúp kiểm soát chi phí sản phẩm, ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm thu phí quá mức, góp phần cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp và khách hàng, đồng thời tăng cường tính công khai, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường bảo hiểm.
Lưu ý rằng, nếu sửa đổi, bổ sung cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe đã đăng ký với Bộ Tài chính theo Điều 22 Thông tư số 67/2023/TT-BTC, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải chứng minh được tính phù hợp của việc sửa đổi, bổ sung căn cứ trên số liệu thống kê của doanh nghiệp, chi nhánh trong thời gian triển khai sản phẩm và có xác nhận của chuyên gia tính toán.
Ngoài ra, trường hợp sửa đổi, bổ sung cơ sở tính phí của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe đã được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi Thông tư số 67/2023/TT-BTC có hiệu lực, những nội dung sửa đổi, bổ sung tại cơ sở tính phí theo đề nghị của doanh nghiệp phải phù hợp với các Thông tư số 67/2023/TT-BTC.
Nhìn chung, việc quy định cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe nhằm bảo đảm mức phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở khoa học, khách quan và phản ánh đúng mức độ rủi ro, chi phí cũng như đặc điểm của từng sản phẩm bảo hiểm. Đồng thời, các quy định này thiết lập cơ chế kiểm soát đối với các giả định định phí và các khoản phí thu từ bên mua bảo hiểm, góp phần bảo đảm tính minh bạch, hợp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Qua đó, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, vừa duy trì khả năng thanh toán, an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm và thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường bảo hiểm.
Trân trọng./.