Đề xuất Án lệ về trường hợp đòi lại nhà đất đã được giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ TRƯỜNG HỢP ĐÒI LẠI NHÀ ĐẤT ĐÃ ĐƯỢC GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CỦA NHÀ NƯỚC
Tình huống pháp lý:
Thực tiễn có nhiều trường hợp người Việt Nam khi đi định cư ở nước ngoài đã làm thủ tục giao lại, gửi lại nhà đất cho chính quyền địa phương để có đủ điều kiện xuất cảnh ra nước ngoài theo quy định của pháp luật tại thời điểm người đó đi định cư. Chính quyền địa phương đã tiếp nhận, quản lý, sử dụng và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Đến nay, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trở về nước sinh sống hoặc con của họ trở về nước sinh sống có đề nghị trả lại nhà đất đã giao, gửi cho chính quyền địa phương trước đây. Trường hợp này, khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, một số Tòa án còn có quan điểm giải quyết khác nhau; có Tòa án không chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà đất, có Tòa án lại chấp nhận yêu cầu, buộc cơ quan nhà nước đang quản lý, sử dụng đất phải trả lại đất.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[2] Theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 121/CP ngày 19/3/1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với những người Việt Nam xin ra nước ngoài để làm ăn sinh sống thì phải chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình cho cha, mẹ, vợ, chồng, con ở lại trong nước. Đối với vợ chồng cụ M1 trước khi đi nước ngoài thì cha, mẹ hai bên đã chết và các con cũng ở nước ngoài, nên cụ M1 làm đơn xin gửi nhà để bổ túc hồ sơ xin xuất cảnh cho chính quyền địa phương quản lý. Như vậy thực tế từ năm 1979, gia đình cụ M1 xuất cảnh ra nước ngoài đã giao nhà, đất cho chính quyền địa phương quản lý, sử dụng. Trong quá trình quản lý, sử dụng Ủy ban nhân dân xã P đã kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/10/2009.
[3] Tại Điều 1 Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội quy định: “Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quả trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất”. Cũng tại khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội quy định: “Nhà nước hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách dưới đây: ... 6. Quân lý nhà đất của những người di tản, chuyển vùng hoặc ra nước ngoài”. Ngoài ra, khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
[4] Xét thấy nhà, đất đã được Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách về quản lý đất đai và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 23/2003/NQ11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại nhà, đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở.”