Nguồn án lệ về việc tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế (Quyết định giám đốc thẩm số 28/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP YÊU CẦU CHIA DI SẢN THỪA KẾ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 28/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 28/2023/DS-GĐT ngày 09/8/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị về vụ án “Tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế”.
Nội dung hủy án:
“[3] Xét thấy: Tại “Giấy chuyển quyền thừa kế sử dụng đất” ngày 20/02/2006, có nội dung: thửa đất số 147, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.312m2 vợ chồng cụ P3 được Hợp tác xã cấp năm 1958 và vợ chồng cụ P3 làm nhà ở từ năm 1958 cho đến nay; cụ P3 để lại toàn bộ nhà, cây cối trên diện tích 1.312m2 đất cho vợ chồng ông S2 và sau khi cụ P3 qua đời, vợ chồng ông S2 phải có trách nhiệm thờ cúng ông bà, cha mẹ là đã thể hiện ý chí của cụ P3 sau khi chết cụ P3 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “Giấy chuyển quyền thừa kế sử dụng đất” ngày 20/02/2006 là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là không đúng và chính xác.
Di chúc nêu trên có dấu điểm chỉ và chữ ký đề tên cụ P3, chữ ký của các con cụ P3 là bà P1, bà P2, ông S2, chữ ký của ông Lê Phước H4 (Trưởng Khóm X1) và xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Y1, chứng thực của Phòng Tư pháp huyện Z1 ngày 08/3/2006. Căn cứ lời khai của đương sự và các nhân chứng thì có cơ sở xác định cụ P3 không biết chữ; ông Trần Công A khai cụ P3 có nhờ ông A viết hộ di chúc và tại thời điểm lập di chúc chỉ có ông A, cụ P3; ông Lê Phước H4 khai việc lập di chúc không diễn ra trước mặt ông H4 và khi ông H4 đến thì di chúc lập xong, đã có chữ ký không biết của ai và cụ P3 điểm chỉ thời điểm trước khi ông H4 ký xác nhận. Ông S2 thừa nhận cụ P3 không biết chữ, ông A đã viết hộ di chúc và ký tên cụ P3; Ủy ban nhân dân thị trấn Y1 và Phòng Tư pháp huyện Z1 trình bày khi tiến hành xác nhận, chứng thực thì di chúc ngày 20/02/2006 đã được lập từ trước và đã có chữ ký sẵn của các bên. Do đó, việc lập di chúc nêu trên không đúng theo quy định của Điều 654, Điều 656, Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005. Bên cạnh đó, theo “Giấy chuyển quyền thừa kế sử dụng đất” ngày 20/02/2006 thì cụ P3 đã định đoạt cả phần di sản của cụ Lực để lại nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không điều tra, làm rõ mà xác định “Giấy chuyển quyền thừa kế sử dụng đất” ngày 20/02/2006 có hiệu lực pháp luật là chưa đủ cơ sở.
[4] Theo Biên bản thực địa ngày 31/10/2003, thể hiện thửa đất số 147, diện tích thực tế 1.312 m2 (bao gồm 414m2 hành lang lưới điện 10 KV). Tuy nhiên, cơ quan điện lực đã di dời đường điện 10 KV từ năm 1990 và cụ P3 cùng ông S2 đã bao chiếm, sử dụng diện tích hành lang lưới điện này và được Nhà nước công nhận diện tích đất này khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 cho hộ cụ P3. Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích 1.017m2 đất (diện tích đất còn lại sau khi cụ P3 chuyển nhượng, bao gồm cả diện tích hành lang lưới điện) là di sản của vợ chồng cụ P3 để chia thừa kế theo pháp luật là không chính xác, không đảm bảo quyền lợi của ông S2; Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ lời khai, tài liệu của ông S2 xuất trình để cho rằng năm 1973 vợ chồng cụ P3 chỉ được cấp 800m2 đất, hộ cụ P3 (gồm cụ P3, vợ chồng ông S2 và 02 người con) đã khai phá thêm 512m2 đất (cụ P3 đã chuyển nhượng 295m2 đất) nên diện tích 217m2 đất khai phá còn lại là tài sản chung của hộ cụ P3, trong khi năm 2001 ông S2 mới lập gia đình là chưa đủ căn cứ.”