NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 39/2025/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 39/2025/DS-GĐT ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ bản án dân sự phúc của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Nội dung hủy án:

“[1]. Tại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản và tặng cho tài sản ngày 21/4/2022, cụ Nguyễn Văn Đ cùng các con gồm ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L1 thỏa thuận, có nội dung: “Những người thừa kế có tên nêu trên thống nhất thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ N trong quyền sử dụng đất chung với cụ Đ.... Ông D được nhận toàn bộ thửa đất số 104; ông L được nhận toàn bộ các thửa đất số 78, 128, 132, 126. Như vậy, ông D, ông L là những người được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất theo thỏa thuận nêu trên, được toàn quyền đứng tên trên giấy tờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật”.

Bà L1 thừa nhận có ký vào văn bản này và văn bản này đã được công chứng hợp pháp tại Văn phòng C2. Điều này thể hiện ý chí của bà L1 là tặng cho phần di sản mà bà được hưởng cho ông L và ông D. Ông L và ông D lập thủ tục và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 78, 104, 126, 128, 132. Như vậy, việc tặng cho này đã hoàn thành tại thời điểm ông L và ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc Văn bản thỏa thuận này bỏ sót ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T nhưng không thể phủ nhận việc bà L1 tặng cho phần di sản của mình cho ông L và ông D.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm chia di sản cho bà L1 được hưởng (đã tặng cho ông L và ông D) là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông L và ông D.

[5]. Căn cứ “Đơn xin xác nhận” ngày 15/11/2024, của cụ Đ, có nội dung: “Do tuổi già sức yếu nên cụ Đ đã tặng cho ông L - con út trong gia đình ½ nhà đất kể cả phần thừa kế của cụ Đ đối với di sản của cụ N (chết) với mục đích để cụ Đ tiếp tục sử dụng ngôi nhà gắn liền với thửa đất số 78, 132 làm nơi thờ cúng ông bà tổ tiên và là nơi ở duy nhất lúc tuổi già, thuận tiện cho việc ông L chăm lo, phụng dưỡng cụ Đ. Đồng thời, cụ Đ tặng cho ½ nhà đất cho ông L là có ý nguyện sau khi cụ Đ chết ngôi nhà này là di sản dùng vào việc thờ cúng” và trên thực tế thì ông L là người chăm sóc cụ Đ; cụ Đ chỉ có chỗ ở duy nhất là căn nhà gắn liền trên thửa đất số 78, 132. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chia kỷ phần thừa kế của cụ N cho bà L1 và bà T được nhận là nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất số 78, 132 là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L và không đúng với ý chí, nguyện vọng của cụ Đ - là cha của các bên đương sự.

[6]. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T và bà L1 có lúc yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, có lúc yêu cầu được nhận bằng giá trị. Tuy nhiên, ngay từ khi khởi kiện vụ án bà T đã yêu cầu được hưởng bằng giá trị và tại phiên tòa phúc thẩm thì bà L1 và bà T đều yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng giá trị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại chia di sản thừa kế cho bà T và bà L1 bằng hiện vật, cụ thể là ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất số 78 và thửa đất số 132 là không đúng.”