NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 03/2025/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 03/2025/DS-GĐT ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre và bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện CT về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

Nội dung hủy án:

“[2] Xét về nguồn gốc đất: theo hồ sơ trích sao sổ mục kê đất năm 1990 của Ủy ban nhân dân xã QT thể hiện: thửa đất số 989, số 990 tờ bản đồ số 01, có tổng diện tích là 1.375m2 người đứng tên là bà Nguyễn Thị T1, sau đó có chỉnh sửa gạch bỏ chữ “T1” và ghi kế bên là“Phương T1”, đồng thời sổ mục kê cũng thể hiện ông Nguyễn Văn T được ghi nhận đối với thửa số 983, 984, nhưng bị gạch bỏ và thay bằng ông Nguyễn Thanh G đối với thửa số 983 và bà Phạm Thị R là thửa số 984 (BL 188). Tòa án hai cấp căn cứ vào sổ mục kê để xác định diện tích đất tranh chấp là của ông T quản lý từ năm 1980, đến năm 1990 cho bà T1 kê khai đứng tên sổ mục kê đối với thửa đất là chưa đủ cơ sở vững chắc. Ngoài ra, tháng 6/2020 bà T1 làm đơn xin đo đạc xác định lại diện tích đất do hồ sơ địa chính đã đo nhập thửa đất của bà T1 với phần đất của ông Nguyễn Văn B (chồng bà K), nên bà T1 được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28/9/2020 trong đó có phần đất hiện bà T1 đang tranh chấp với bà K nhưng chưa được Tòa án hai cấp làm rõ.

[4] Như vậy, về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất tuy bà T1 là người đứng tên diện tích 362,3m2, thửa đất 721, nhưng thực tế diện tích đất này gia đình bà K, ông B là người quản lý sử dụng đất ổn định từ năm 1999 đến nay và tại phần nhận định của bản án phúc thẩm cũng xác định bà K, ông B đã ở ổn định, lâu dài trên đất thời gian trên 30 năm (trước thời điểm bà T1 được cấp giấy chứng nhận lần đầu năm 2004). Các nội dung trên phù hợp với lời khai của bà M, ông N (anh, chị em ruột của bà T1) và ông Nguyễn Mỹ L là cậu ruột ông T (ông T là cha ruột bà T1), tất cả đều xác nhận phần đất bà T1 tranh chấp với bà K đã được ông T và các chi trong họ tộc đồng ý chia cho ông B (cha bà K) phần đất làm nhà ở từ năm 1999 đến nay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chỉ căn cứ duy nhất vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã buộc bà K trả lại cho bà T1 diện tích 362,3m2 đất trên là chưa đủ cơ sở vững chắc. Trong trường hợp nếu có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp là của bà T1, nhưng gia đình bà K có quá trình quản lý sử dụng đất lâu dài cấp phúc thẩm cũng cần phải xem xét công sức giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất của gia đình bà K, đồng thời cũng xác minh làm rõ nhu cầu về chỗ ở của gia đình bà K để giải quyết cho thỏa đáng.

[5] Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1, buộc bà K trả cho bà T1 diện tích đất 362,3m2 là chưa phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.”