Nguồn án lệ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” (Quyết định tái thẩm số 63/2021/DS-TT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN” (QUYẾT ĐỊNH TÁI THẨM SỐ 63/2021/DS-TT)
Quyết định tái thẩm số 63/2021/DS-TT ngày 16/3/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 14/2017/QĐST-DS ngày 27/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh NT về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Nội dung hủy án:
“[2] Ông Nguyễn Quốc H là chồng bà O tố cáo cho rằng ông không liên quan đến khoản nợ bà O vay của bà L, không đồng ý trả nợ cho bà L, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận không đúng ý kiến của ông để buộc ông cùng bà O trả nợ cho bà L là không đúng, xét thấy:
[2.1] Tại Biên bản lấy lời khai của Thư ký Tòa án bà Quảng Thị Thái Bình ngày 19/02/2020 (Bút lục 107, tập Hồ sơ của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao), bà Bình khai nhận: "Trong biên bản ghi lời khai ông H ngày 19/6/2017 tôi có ghi thêm nội dung đoạn cuối của biên bản bắt đầu từ đoạn: Hiện nay vợ tôi đã trả được 100.000.000 đồng cho bà L". Tại Biên bản lấy lời khai của ông H ngày 18/02/2020 (Bút lục 49, tập hồ sơ của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao), ông H trình bày: "…tôi chỉ khai tới đoạn sau này vỡ nợ bà L đến đòi nợ thì tôi mới biết được". Đối chiếu lời khai của bà Bình và ông H thì chưa rõ bà Bình ghi bổ sung những phần nào, nội dung gì trong Biên bản lấy lời khai này, nhưng việc Thư ký Tòa án lấy lời khai, ghi bổ sung thêm nội dung ngoài lời khai và ngoài sự chứng kiến của ông H là trái quy định tại Điều 98 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên có cơ sở xác định biên bản lấy lời khai ngày 19/6/2017 không thể hiện chính xác lời trình bày của ông H.
[2.2] Tại Biên bản lấy lời khai của bà Bình (Thư ký Tòa án) ngày 19/02/2020 (Bút lục 107, tập Hồ sơ của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao), bà Bình thừa nhận: "Đúng là bà O đã ký khống vào biên bản hòa giải thành mà tôi chưa ghi ngày nên mới có chữ ký của bà O vào biên bản hòa giải thành ngày 19/6/2017". Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2020, bà Bình khai: "Tuy nhiên, ngày 16/6/2017, chỉ có bà L và bà O đến…tôi ghi nhận lại lời khai của bà L và bà O vào biên bản. Thực chất trong buổi làm việc này không có Thẩm phán tham gia và ông Nguyễn Quốc H không có mặt. Tôi đưa tờ biên bản hòa giải cho bà L và bà O ký vào chưa để ngày tháng lập biên bản. Đến ngày 19/6/2017, ông H đến Tòa án cùng với bà L, tôi tiếp tục lập biên bản hòa giải đã làm dang dỡ chưa có ý kiến của ông H, sau đó tôi tiếp tục đánh máy ý kiến của ông H tiếp theo ý kiến của bà L và bà O… Sau đó tôi đưa cho ông H xem và ký vào biên bản, lúc này đã có chữ ký của bà L, bà O trước đó". Tại biên bản lấy lời khai của ông Hán Văn Thuận (Thẩm phán) ngày 13/5/2020 (Bút lục 119, tập Hồ sơ của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao) thể hiện: "Đến ngày 19/6/2017, do tôi bận việc nên không tham gia hòa giải mà giao cho Thư ký tiến hành". Do đó, có căn cứ để khẳng định bà Bình (Thư ký Tòa án) đã lập Biên bản hòa giải, Biên bản hòa giải thành ngày 19/6/2017 không trên cơ sở có mặt đầy đủ các đương sự, không có mặt của Thẩm phán chủ trì, cho đương sự ký trên một mặt giấy riêng biệt và kết nối phần nội dung của biên bản bằng dấu giáp lai của Tòa án mà không cho đương sự ký vào từng trang của biên bản, nên nội dung các biên bản không đảm bảo tính chính xác, tính khách quan của lời trình bày của các đương sự.
[3] Việc ông Hán Văn Thuận (Thẩm phán) giao cho bà Quảng Thị Thái Bình (Thư ký Tòa án) tiến hành tổ chức phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, lấy lời khai của đương sự là không đúng quy định tại các Điều 48, 51, 98, 208, 209 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Thẩm phán không kiểm tra, đối chiếu mà ký hoàn thiện tài liệu chứng cứ do Thư ký Tòa án thu thập trái quy định của pháp luật để ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là không đảm bảo về nội dung, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Do đó, Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét thấy Quyết định kháng nghị tái thẩm số 19/QĐKNTTVKS-DS ngày 17/11/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận.”