Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản (Quyết định giám đốc thẩm số 78/2024/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 78/2024/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 78/2024/DS-GĐT ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Nội dung hủy án:
“[4] Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Điều 27quy định: “Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới trong những trường hợp sau đây: “a) Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ chồng trong các trường hợp sau: - Trường hợp xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng; - Trường hợp vợ chồng kinh doanh chung; - Trường hợp đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng”. Giấy mượn tiền đề ngày 27/6/2018 ghi ông H và anh H1 có mượn 1.420.000.000 đồng để “giải quyết việc gia đình”, N mượn ký ghi tên “Nguyễn Thanh H”, Người bảo lãnh ký ghi tên “Nguyễn Phi H1” (bút lục 33); Giấy mượn tiền đề ngày 12/7/2019 ghi ông H mượn 390.000.000 đồng để “Giải quyết việc gia đình”, N mượn tiền ký ghi tên “Nguyễn Thanh H” (bút lục 31); Giấy mượn tiền đề ngày 14/8/2020 ghi ông H và bà C có mượn 125.000.000 đồng, lý do mượn “Có công việc”, Người mượn tiền ký ghi tên ‘Nguyễn Thanh H” (bút lục 32). Xét, các Giấy mượn tiền này không có chữ ký của C, bà C cho rằng việc ông H có vay tiền ông T, bà L theo các Giấy mượn tiền hay không và vay làm gì thì bà C không biết; trong khi, ông T, bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông H vay tiền của ông T, bà L nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc ông H đại diện cho cả bà C khi vay tiền, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định bà C có nghĩa vụ liên đới cùng ông H trả các khoản tiền này là chưa đủ cơ sở.
[5] Đối với khoản tiền 500.000.000 đồng ông T, bà L yêu cầu ông H, bà C trả theo Giấy bán đất đề ngày 14/8/2020 (bút lục 28) ghi ông H, bà C bán cho ông T, bà L thửa đất giá 2,2 tỷ đồng, đã nhận cọc 500.000.000 đồng, đoạn sau của Giấy ghi:“Ngày 13/9/2020: Tôi hẹn tuần tới tôi sẽ gửi lại cho anh chị L. Nếu không bán được đất tôi sẽ gởi lại cho chị L 500.000.000 đồng”; xét thấy, nội dung Giấy bán đất không rõ là ông H nhận cọc bán đất cho ông T, bà L hay ông H bán đất cho người khác, mặt khác tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không đề ngày, tháng, năm) bên bán ký, dưới ghi tên “Nguyễn Thanh H”, bên mua ký, dưới ghi tên “Võ Thị L” và ghi tên “Nguyễn Văn T” nội dung ông H, bà C chuyển nhượng cho ông T, bà L thửa đất số 596, tờ bản đồ số 8, diện tích 315m2, địa chỉ thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (bút lục 27), ông H không đồng ý trả khoản tiền này vì cho rằng đây là tiền ông T, bà L đặt cọc mua đất, nhưng không mua nên mất cọc; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ khoản tiền này là tiền mượn hay tiền cọc, nếu là tiền cọc thì phải xét tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định của pháp luật, nhưng đã xác định là tiền mượn để buộc trả và buộc ông H, bà C liên đới trả nợ khi chỉ mình ông H ký là chưa đủ cơ sở.”