NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỢP TÁC (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 02/2025/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 02/2025/DS-GĐT ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận M về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác.

Nội dung hủy án:

“[1]. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Xuân H và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thanh T, Tòa án hai cấp đều xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” trong lĩnh vực xuất khẩu lao động giữa bên A là Công ty ML và bên B là ông Vũ Xuân H, bà Nguyễn Thị Thanh T là có căn cứ. Tuy nhiên, quá trình thụ lý, xác minh thu thập chứng cứ Tòa án hai cấp đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự không đúng với chủ thể của quan hệ tranh chấp, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng với bản chất của vụ án. Cụ thể:

[1.1]. Về hình thức thỏa thuận: Trong nội dung Biên bản thỏa thuận ngày 20/5/2010 không thể hiện có sự hợp tác nào giữa ông H với bà T. Theo đó, về quyền và nghĩa vụ cũng như trong công việc giữa ông H, bà T là hoàn toàn độc lập, không phát sinh quyền và nghĩa vụ trong quan hệ giữa ông H và bà T. Cụ thể: Thỏa thuận không thể hiện nội dung công việc ông H hợp tác với bà T là gì? Ông H, bà T có quyền và nghĩa vụ cụ thể gì khi phối hợp trong công việc?

Không có sự phân công, phân nhiệm, trách nhiệm pháp lý của từng người khi thực hiện nội dung hợp tác. Những công việc gì mà ông H, bà T phải làm, được làm? Những công việc gì mà khi một bên thực hiện thì phải được sự đồng ý của phía bên kia?…

[1.2]. Về nội dung thỏa thuận: Biên bản thỏa thuận chỉ thể hiện nội dung công việc liên quan đến quyền và nghĩa vụ của Bên A là Công ty ML đối với Bên B là ông Vũ Xuân H, bà Nguyễn Thị Thanh T khi tham gia hợp tác hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động, không thể hiện có sự hợp tác giữa ông H và bà T với nhau; Các quy định trong nội dung thỏa thuận không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý giữa ông H với bà T.

Xét về bản chất pháp lý của Biên bản thoả thuận ngày 20/5/2010 là hợp đồng hợp tác trong lĩnh vực xuất khẩu lao động độc lập giữa Công ty ML với ông H và hợp đồng hợp tác trong lĩnh vực xuất khẩu lao động độc lập giữa Công ty ML với bà T; Thỏa thuận 03 bên không có nội dung hợp tác giữa ông H với bà T nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lý giữa ông H với bà T. Do đó, có thể xác định ông H và bà T là các bên trong hợp đồng hợp tác với Công ty ML, chứ ông H và bà T không phải là đối tác của nhau.

Mặt khác, hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện nội dung thỏa thuận hợp tác giữa ông H với bà T (thỏa thuận nội bộ của bên B); và cũng không có tài liệu nào thể hiện các nội dung như: thỏa thuận cùng góp vốn để thuê mặt bằng làm trụ sở phục vụ cho công tác tuyển dụng, đào tạo lao động; không có sự phân công nhiệm vụ: bà T làm công tác quản lý thu chi nội bộ của bên B, còn ông H phụ trách công việc tuyển dụng lao động của bên B…; không có sự phân chia vốn góp ban đầu của ông H bao nhiêu? bà T bao nhiêu?... Ai là người quản lý tài chính của hai người, quy chế chi tiêu và sử dụng tài chính, phân chia lợi nhuận giữa hai người ra sao?

Việc bà T nhận ủy quyền của Công ty ML (Theo Giấy ủy quyền số 171/2010/GUQ-MIIC ngày 01/7/2010) chỉ là với tư cách Trưởng phòng xuất nhập khẩu lao động của Công ty ML và bà T có nhiệm vụ giúp Công ty ML quản lý tài chính thu, chi liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động; hợp đồng tạo nguồn, đào tạo giáo dục định hướng cho lao động… Không có tài liệu nào chứng minh bà T được trực tiếp thay mặt Công ty ML thu tiền của các Tu nghiệp sinh và có trách nhiệm thanh toán cho ông H các khoản tiền mà ông H được hưởng lợi từ việc giới thiệu Tu nghiệp sinh như thỏa thuận tại Biên bản ngày 20/5/2010.

Tòa án hai cấp xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng hợp tác giữa ông H với bà T và buộc bà T phải thanh toán cho ông H 565.767.268 đồng (Năm trăm sáu mươi lăm triệu bảy ngàn hai trăm sáu mươi tám đồng) là chưa phù hợp.

[2]. Ngoài ra, Tòa án hai cấp còn vi phạm trong việc thu thập chứng cứ phục vụ giải quyết và xét xử vụ án, cụ thể: Để xác định 29 trường hợp Tu nghiệp sinh có phải do ông H trực tiếp tuyển dụng hay không? Tại Biên bản thỏa thuận 03 bên ngày 20/5/2010 xác định số phí thu từ 3.000 đến 3.500 USD/1 Tu nghiệp sinh, do đó cần phải có căn cứ xác định rõ số tiền phí mà từng Tu nghiệp sinh đã nộp cụ thể là bao nhiêu?. Tuy nhiên, Tòa án hai cấp chỉ thu thập số tiền đã nộp của một trường hợp Tu nghiệp sinh là ông Đinh Công Quốc để tính luôn số tiền của 28 trường hợp còn lại và buộc bà T phải thanh toán cho ông H là chưa có cơ sở vững chắc.

Vì những thiếu sót nêu trên nên cần hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự.”