Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 139/2024/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 139/2024/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 139/2024/DS-GĐT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự phúc thẩm số của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre và hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Nội dung hủy án:
“[1]. Bà Đàm Thị H cho rằng chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2019, không phải của bà H mà do bà Đàm Thị E giả mạo. Bà E cũng thừa nhận do cần tiền nên bà E có vay của ông Đào Hữu T 200.000.000 đồng và để đảm bảo khoản vay, bà E thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của bà H để ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 503 cho ông T. Ông T do nghĩ bà E là bà H nên mới ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không thừa nhận việc cho vay tài sản như bà E trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, bà E cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày mình. Do đó, Tòa án hai cấp không giám định chữ ký của bà H tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2019 mà chỉ căn cứ vào lời khai của bà E để xác định đây là Hợp đồng vay tài sản và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2019 nêu trên là chưa đủ căn cứ vững chắc. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm cần giám định chữ ký của bà E, bà H để xác định lỗi của các bên trong việc chuyển nhượng.
[2]. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ông T có cung cấp thêm chứng cứ là Biên nhận nhận tiền ngày 20/5/2019, bà H (do bà E giả danh và giả chữ ký) tiếp tục nhận thêm của ông T số tiền 200.000.000 đồng, là số tiền hỗ trợ cây cối trên đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên đã ký trước đó. Tuy nhiên, Bản án phúc thẩm nhận định đối với số tiền này“nếu sau này các bên có tranh chấp thì ông T được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác” là không đảm bảo việc giải quyết khách quan, toàn diện và triệt để vụ án.
[3]. Mặt khác, việc chuyển nhượng giữa các bên đối với thửa đất số 503 được Văn phòng C2 công chứng 12/01/2019, nhưng quá trình giải quyết vụ án Tòa án hai cấp không đưa Văn phòng công chứng Kim C1 vào tham gia tố tụng để làm rõ trách nhiệm của Công chứng viên và Văn phòng công chứng Kim C1 là có thiếu sót, bởi lẽ: Theo quy định tại Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 thì Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra các giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng. Vì vậy, cần làm rõ việc Công chứng viên đã bảo đảm đúng quy trình, thủ tục công chứng hợp đồng hay chưa? Trường hợp Văn phòng C2 đã thực hiện việc kiểm tra đúng theo quy định nhưng không phát hiện người ký hợp đồng là giả thì Văn phòng công chứng Kim C1 cũng có lỗi do thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra và phải bồi thường theo Điều 38 Luật Công chứng năm 2014. Trường hợp Văn phòng công chứng Kim C1 và ông T biết rõ bà E giả danh, giả mạo chữ ký của bà H để ký kết hợp đồng nhưng các bên vẫn đồng ý thực hiện việc công chứng và mua bán thì hành vi này của Văn phòng công chứng Kim C1 là cố ý làm trái quy định pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chủ sử dụng đất hợp pháp.”