Nguồn án lệ về việc tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (Quyết định giám đốc thẩm số 264/2024/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 264/2024/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 264/2024/DS-GĐT ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự sơ thẩm số 28/2022/DS-ST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về việc tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
Nội dung hủy án:
“[3] Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã vi phạm thủ tục tố tụng: việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ, không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật Tố tụng dân sự, dẫn đến kết luận trong bản án chưa phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, cụ thể như sau:
[3.1] Hồ sơ vụ án thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Kim N1. Tuy nhiên, vợ chồng ông H, bà N1 có gửi cho Tòa án các tài liệu chứng cứ và được Tòa án đóng dấu nhận đơn ngày 15/01/2021, cụ thể:
+ “Đơn yêu cầu” và “Bản khai” (cùng đề ngày 11/01/2021), kèm theo bản photocopy “Giấy vay tiền” đề ngày 06/7/2016 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Kim N1 có nội dung: “Vợ chồng ông H, bà N1 có vay của Kim N1 số tiền 400.000.000 đồng, tiền lãi và gốc mỗi ngày phải trả là 730.000 đồng, thời hạn vay 05 năm. Vợ chồng ông H, bà N1 đồng ý sang nhượng thửa đất 54, tờ bản đồ 27, diện tích 158,3m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CĐ 266496 cho bà Kim N1. Trong vòng 30 ngày, nếu ông H, bà N1 không đóng tiền lãi và gốc đầy đủ thì bà Kim N1 có quyền lấy căn nhà và đất nêu trên”.
+ Biên bản làm việc ngày 18/9/2020 (bản photocopy) của Ủy ban nhân dân phường MD, bà Nguyễn Thị Kim N1 thừa nhận việc ông H, bà N1 mượn 400.000.000 đồng của bà và bà trình bày: “Trong quá trình cho ông H mượn tiền để nắm phần chắc về mình nên tôi đã yêu cầu ông H lên phòng công chứng để sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên ông H qua cho tôi.”.
Tuy nhiên, tại Tòa án bà Nguyễn Thị Kim N1 lại trình bày vợ chồng ông H, bà N1 chuyển nhượng nhà đất cho bà giá 400.000.000 đồng và bà đã thanh toán đủ tiền chuyển nhượng cho vợ chồng ông H, việc chuyển nhượng là hợp pháp.
[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào lời trình bày của bà Nguyễn Thị Kim N1 và vợ chồng ông A, bà N mà không xem xét các tài liệu, chứng cứ do vợ chồng ông H, bà N1 đã cung cấp; không thu thập Biên bản làm việc ngày 18/9/2020 của Ủy ban nhân dân phường MD để đánh giá tính hợp pháp của nội dung Biên bản này, không làm rõ lý do gì bà Nguyễn Thị Kim N1 là người nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông H, bà Anh ngày 06/7/2016 nhưng cùng ngày lại ký giấy cho vợ chồng ông H, bà N1 vay số tiền 400.000.000 đồng? có hay không có việc tại Ủy ban nhân dân phường MD bà Nguyễn Thị Kim N1 thừa nhận chỉ là hợp đồng vay tài sản và ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ để đảm bảo cho việc vay tiền? Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh những hộ dân liền kề hoặc chính quyền địa phương có việc bàn giao nhà, đất tranh chấp giữa bên mua là bà Kim N1 và bên bán là vợ chồng ông H hay không, cũng chưa thu thập chứng cứ làm rõ giá chuyển nhượng tài sản giữa vợ chồng ông H với bà Nguyễn Thị Kim N1 tại thời điểm tháng 7/2016 có phù hợp với giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng hay không. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A, bà N, buộc ông H, bà N1 giao nhà và đất là chưa có căn cứ vững chắc.”