Nguồn án lệ về việc tranh chấp đòi lại tài sản; yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 81/2024/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN; YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU VÀ YÊU CẦU HUỶ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 81/2024/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 81/2024/DS-GĐT ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định về việc tranh chấp đòi lại tài sản; yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nội dung hủy án:
“[3] Trong thời từ năm 2010 đến nay, vợ chồng ông S, bà D vẫn quản lý, sử dụng đối với nhà đất và xây dựng thêm một số công trình kiến trúc trên đất với tổng giá trị gần 200 triệu đồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại tuyên buộc ông S, bà D phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên thửa đất tranh chấp để trả đất cho ông T là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông S cũng như gây khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành án.
[4] Về thủ tục tố tụng: Tòa cấp phúc thẩm nhận định: Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên là hợp pháp đúng pháp luật và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gằn liền với đất ngày 31/8/2010 không thể hiện việc ông H, bà A1 còn nợ ông A số tiền mua nhà 180.300.000 đồng và cũng không ghi điều kiện, còn hợp đồng thỏa thuận việc thanh toán mua bán nhà ở và đất ngày 08/9/2010, hai bên lập sau ngày hợp đồng chuyển nhượng (ngày 31/8/2010), giấy này không có chứng thực nên không có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên, Tòa cấp phúc thẩm quyết định: "Tách phần ông Nguyễn Trung A yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 31/8/2010 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00103 ngày 17/9/2010 cấp cho ông Nguyễn Trung H, bà Nguyễn Thị Ngọc A1 vì ông cho rằng vợ chồng ông Nguyễn Trung H, bà Nguyễn Thị Ngọc Á còn nợ 180.300.000 đồng chưa thanh toán ra xét xử thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu". Như vậy, quyết định nêu trên không phù hợp với phần nhận định của Bản án phúc thẩm làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của ông A không được bảo vệ khi khởi kiện lại bằng vụ án khác là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, bà H, ông Á không có mặt tại địa phương nên không có lời khai. Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập đương sự, thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
[6] Từ các phân tích nêu trên thấy rằng: Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm giải quyết không đúng pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự và cũng để giải quyết triệt để vụ án, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy cần chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 74/QĐ-VKS-DS ngày 19/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.”