ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP TÀI SẢN THỪA KẾ

Tình huống pháp lý:

Hiện nay, do kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, đất đai ngày càng có giá trị nên tình trạng tranh chấp diễn ra khá phổ biến, nhất là tranh chấp di sản thừa kế về đất đai. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những bi kịch của nhiều gia đình. Đã có không ít những vụ án vì mâu thuẫn dành đất đai thừa kế khiến anh em ruột xảy ra mâu thuẫn mà sát hại nhau, để lại hậu quả đau lòng và gây hoang mang cho dư luận xã hội.

Nhiều vụ việc liên quan đến tranh chấp đất đai, ngoài những vụ tranh chấp đất đai giáp ranh, liền kề giữa hàng xóm thì chủ yếu là tranh chấp di sản thừa kế do ông bà, cha mẹ để lại. Có nhiều gia đình chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng nộp đơn khởi kiện tại Toà; dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn hay thuê người đến doạ nạt, hành hung người nhà… chỉ để nhận lại vài mét đất ruộng, đất ở là di sản mà cha mẹ để lại. Những trường hợp như vậy, dù thắng hay thua, cũng đều để lại nỗi đau tinh thần và cả sức khoẻ cho những người trong cuộc, đáng tiếc hơn là họ đã đánh mất một thứ tình cảm gia đình thiêng liêng lớn lao, không vật chất nào sánh bằng.

Ngoài ra, mặt trái của sự phát triển kinh tế – xã hội khiến giá trị đạo đức và sự gắn kết giữa các thành viên gia đình của một bộ phận người dân không được bền chặt, dễ bị tác động của vật chất. Họ đặt giá trị vật chất lên cao hơn giá trị tinh thần và tình cảm gia đình, vì thế những trường hợp tranh chấp xảy ra đều là do anh em không tự thỏa thuận được, sự thỏa thuận không công bằng dẫn tới không đồng thuận, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của những đồng thừa kế cùng hàng hoặc cậy quyền, tham lam, bất chấp pháp luật, tình thân… Trong đó, đáng lo ngại nhất là do lòng tham, lợi dụng mối quan hệ xã hội rộng để lo lót, bóp méo sự thật để được pháp luật công nhận di sản đó của riêng mình thông qua việc làm di chúc, biên bản họp hội đồng gia tộc, tặng cho tài sản giả, giả mạo chữ ký…

Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Tuy nhiên, theo nội dung Bản kê khai nhà cửa ngày 17/12/1977 do cụ Trì kê khai, đăng ký thì cụ Trì, cụ Đây tạo lập được diện tích đất 600m2, trên đất có căn nhà diện tích 48m2; đồng thời, tại nội dung “Tờ đăng ký nhà đất” đề ngày 20/8/2003 do ông Dẫu kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất gửi Ủy ban nhân dân phường Phú Thuận Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Dẫu thừa nhận “Đất do cha mẹ tự lập trước 1968…Nhà do cha mẹ tự cất, sau khi chết để lại cho con sử dụng từ 1975 cho đến nay”. Quá trình giải quyết vụ án, ông Dẫu, bà Trong thừa nhận diện tích đất là của cụ Trì, cụ Đây khai phá, nhưng năm 1975 cụ Trì, cụ Đây đã tặng cho ông Dẫu, bà Trong và ông Dẫu, bà Trong có đưa cho cụ Đây 01 lượng vàng coi như cụ Trì, cụ Đây đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Dẫu, bà Trong, nhưng ông Dẫu, bà Trong không xuất trình được chứng cứ, chứng minh việc giao vàng và các nguyên đơn cũng không thừa nhận. Do đó, có căn cứ xác định trong diện tích đất 894,6m2 chính quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dẫu, bà Trong có 600m2 đất là của cụ Trì, cụ Đây khai phá và cụ Trì, cụ Đây đã kê khai đăng ký năm 1977. Hơn nữa, theo Sổ hộ khẩu kê khai năm 1977 thì gia đình cụ Trì, cụ Đây cùng các con cư trú, sinh sống trên phần đất tranh chấp. Vì vậy, Ủy ban nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có 600m2 đất đang tranh chấp) cho ông Dẫu, bà Trong là không đúng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất 600m2 là di sản thừa kế của cụ Trì, cụ Đây và chia thừa kế theo yêu cầu của các nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 93/2019/DS-PT ngày 08/4/2019, Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định sửa Bản án sơ thẩm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không đúng.”