Các trường hợp nào không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn?

Các trường hợp nào không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có mua bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe cho bản thân, đóng phí đầy đủ theo hợp đồng. Gần đây tôi gặp sự cố phải điều trị nhưng phía công ty bảo hiểm thông báo có thể không chi trả trong một số trường hợp nhất định. Tôi cũng nghe nói có những trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn. Tuy nhiên, tôi chưa hiểu rõ cụ thể các trường hợp đó là gì và áp dụng ra sao trong thực tế? Vậy các trường hợp nào không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.

MỤC LỤC

1. Các trường hợp nào không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe?

2. Trường hợp nào không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn?

 

Trả lời:

1. Các trường hợp nào không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe?

Trong đời sống hiện nay, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe ngày càng trở thành giải pháp tài chính quan trọng, giúp cá nhân và gia đình giảm bớt gánh nặng kinh tế trước những rủi ro bất ngờ về sức khỏe, tính mạng. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm đều có trách nhiệm chi trả quyền lợi. Pháp luật hiện hành đã quy định rõ những trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng và ngăn ngừa hành vi trục lợi bảo hiểm. Cụ thể, Điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã nêu rõ như sau:

Điều 40. Các trường hợp không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong trường hợp sau đây:

a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm khôi phục hiệu lực;

b) Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Người được bảo hiểm bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính bản thân người được bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

d) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình;

đ) Trường hợp khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2. Trường hợp có nhiều người thụ hưởng, nếu một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

3. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.”

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong trường hợp sau đây:

- Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm khôi phục hiệu lực;

- Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng, trừ trường hợp tại khoản 2 Điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022;

- Người được bảo hiểm bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính bản thân người được bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, trừ trường hợp tại khoản 2 Điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022;

- Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình;

- Trường hợp khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Những ghi nhận này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn chặn hành vi trục lợi bảo hiểm, bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong quá trình chi trả quyền lợi bảo hiểm. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để bảo vệ quỹ bảo hiểm và quyền lợi chung của những người tham gia bảo hiểm chân chính. Bên cạnh đó, các nội dung này còn góp phần răn đe hành vi cố ý gây thiệt hại, giữ gìn trật tự xã hội và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật. Qua đó, thị trường bảo hiểm được vận hành an toàn, ổn định và bền vững hơn.

Bên cạnh đó, nếu có nhiều người thụ hưởng, nếu một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Điều này giúp bảo đảm quyền lợi cho những người vô can, tránh việc họ bị mất quyền lợi do hành vi sai trái của người khác.

Cần lưu ý rằng, nếu thuộc các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp tại khoản 2 Điều 40 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. Nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Điều này góp phần bảo vệ quyền lợi tài sản hợp pháp của người tham gia bảo hiểm và gia đình họ.

Có thể thấy, việc quy định các trường hợp không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe là cần thiết để bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Những nội dung này vừa giúp doanh nghiệp bảo hiểm phòng ngừa rủi ro gian lận, vừa nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của bên mua bảo hiểm và người thụ hưởng. Đồng thời, các cơ chế ngoại lệ và hoàn trả phí bảo hiểm cũng thể hiện tính nhân văn, bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người liên quan. Vì vậy, trước khi tham gia bảo hiểm, mỗi cá nhân cần tìm hiểu kỹ các điều khoản loại trừ trách nhiệm để tránh hiểu nhầm và tranh chấp phát sinh sau này. Việc nắm rõ quy định pháp luật không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bản thân mà còn góp phần xây dựng thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, bền vững.

2. Trường hợp nào không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn?

Trong thực tế, nhiều trường hợp người tham gia bảo hiểm bị thương tật, đau ốm hoặc tử vong do lỗi của người khác gây ra. Khi đó, không ít người cho rằng sau khi doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi thì doanh nghiệp có thể yêu cầu người gây thiệt hại hoàn trả lại số tiền đã bồi thường. Tuy nhiên, đối với bảo hiểm liên quan đến con người, pháp luật có quy định riêng nhằm bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm và người thụ hưởng. Cụ thể, Điều 38 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã nêu rõ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn như sau:

Điều 38. Không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn

Trường hợp người được bảo hiểm chết, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn có nghĩa vụ bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả cho người thụ hưởng. Người thứ ba vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo quy định của pháp luật.”

Theo đó, khi người được bảo hiểm chết, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn có nghĩa vụ bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả cho người thụ hưởng. Đây là điểm đặc thù của bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và các loại bảo hiểm con người, bởi mục đích chính là bảo vệ con người chứ không đơn thuần là bù đắp tổn thất tài sản.

Tuy nhiên, việc doanh nghiệp bảo hiểm không có quyền yêu cầu bồi hoàn không đồng nghĩa người thứ ba được miễn trách nhiệm. Theo đó, người thứ ba vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Như vậy, trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại vẫn được bảo đảm thực hiện đầy đủ.

Vậy là, nội dung về việc không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn là cơ chế pháp lý quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm. Sự ghi nhận này giúp bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện đầy đủ cam kết với bên mua bảo hiểm mà không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Đồng thời, người thứ ba gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật, qua đó bảo đảm công bằng trong quan hệ dân sự. Đây là điều khoản vừa chặt chẽ, vừa nhân văn, góp phần nâng cao niềm tin của người dân đối với thị trường bảo hiểm. Việc hiểu rõ nội dung này sẽ giúp người tham gia bảo hiểm chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi xảy ra rủi ro trong thực tế.

Trân trọng./.