Bảo hiểm bắt buộc được quy định như thế nào? Nguyên tắc chung khi tham gia bảo hiểm bắt buộc được thực hiện ra sao?

Bảo hiểm bắt buộc được quy định như thế nào? Nguyên tắc chung khi tham gia bảo hiểm bắt buộc được thực hiện ra sao?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu về các kiến thức pháp luật liên quan đến bảo hiểm bắt buộc nhưng vẫn còn một số điểm chưa rõ. Pháp luật Việt Nam hiện nay ghi nhận bảo hiểm bắt buộc gồm những loại nào và được quy định ra sao? Đồng thời, các nguyên tắc chung khi tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật được thực hiện như thế nào? Mong luật sư giải đáp giúp tôi để hiểu rõ hơn. Xin cảm ơn luật sư.

MỤC LỤC

1. Bảo hiểm bắt buộc được quy định như thế nào?

2. Nguyên tắc chung khi tham gia bảo hiểm bắt buộc được thực hiện ra sao?

 

Trả lời:

1. Bảo hiểm bắt buộc được quy định như thế nào?

Trong một số lĩnh vực nhất định, Nhà nước bắt buộc các chủ thể phải tham gia bảo hiểm nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội và phòng ngừa những rủi ro có thể gây thiệt hại lớn cho cộng đồng. Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã thiết lập chế định bảo hiểm bắt buộc với những nội dung cụ thể về phạm vi và đối tượng áp dụng. Cụ thể, tại Điều 8 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm 2025 cụ thể như sau:

"Điều 8. Bảo hiểm bắt buộc

1. Bảo hiểm bắt buộc là sản phẩm bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, môi trường và an toàn xã hội.

2. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

a) Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;

b) Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

c) Bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng;

d) Bảo hiểm bắt buộc quy định tại luật khác đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ mua bảo hiểm bắt buộc và được lựa chọn tham gia bảo hiểm bắt buộc tại doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai.

4. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán khi tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm bắt buộc quy định tại khoản 2 Điều này."

Theo đó, bảo hiểm bắt buộc có thể hiểu là sản phẩm bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, môi trường và an toàn xã hội. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

- Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;

- Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

- Bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng;

- Bảo hiểm bắt buộc quy định tại luật khác đáp ứng là sản phẩm bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, môi trường và an toàn xã hội.

Đối với tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, pháp luật nêu rõ họ có nghĩa vụ mua bảo hiểm và được quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai để tham gia. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai loại hình bảo hiểm này cũng không được từ chối bán bảo hiểm khi tổ chức, cá nhân đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ quy định chi tiết về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với từng loại bảo hiểm bắt buộc.

Như vậy, bảo hiểm bắt buộc là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm các chủ thể phải tham gia bảo hiểm trong những lĩnh vực có nguy cơ gây thiệt hại lớn cho xã hội. Sự ghi nhận này không chỉ góp phần bảo vệ lợi ích công cộng mà còn tạo cơ sở để bồi thường và khắc phục hậu quả khi xảy ra rủi ro.

2. Nguyên tắc chung khi tham gia bảo hiểm bắt buộc được thực hiện ra sao?

Việc tham gia bảo hiểm bắt buộc không chỉ là nghĩa vụ pháp lý của một số tổ chức, cá nhân mà còn là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm bù đắp thiệt hại khi xảy ra rủi ro trong những lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến xã hội. Do đó, pháp luật Việt Nam đã quy định các nguyên tắc chung nhằm bảo đảm việc tham gia và triển khai bảo hiểm bắt buộc được thực hiện thống nhất và minh bạch.

Căn cứ theo Điều 4 Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 06/9/2023 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 67/2023/NĐ-CP”) được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ quy định như sau:

"Điều 4. Nguyên tắc chung

1. Cơ quan, tổ chức và cá nhân quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 2 Nghị định này (sau đây gọi là “bên mua bảo hiểm”) phải mua bảo hiểm bắt buộc tại các doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm theo quy định pháp luật.

2. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bảo hiểm bắt buộc theo điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu quy định tại Nghị định này.

3. Ngoài việc tham gia bảo hiểm bắt buộc theo điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu hoặc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm quy định tại Nghị định này, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm về mở rộng điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tăng thêm và mức phí bảo hiểm bổ sung tương ứng phù hợp với quy định pháp luật. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm tách riêng phần bảo hiểm bắt buộc trong hợp đồng bảo hiểm.

Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân không thuộc đối tượng phải mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định tại Nghị định này mua bảo hiểm trên cơ sở thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm và phù hợp với quy định pháp luật.

4. Trong bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, đối với mỗi xe cơ giới, trách nhiệm bồi thường bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới chỉ phát sinh theo một hợp đồng bảo hiểm duy nhất.

5. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trong các trường hợp sau:

a) Đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới:

Xe cơ giới hết niên hạn sử dụng theo quy định của pháp luật.

b) Đối với bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc: Cơ sở thuộc diện phải thẩm duyệt thiết kế, thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy nhưng chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy của cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng

c) Đối với bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng:

Bên mua bảo hiểm không đáp ứng đầy đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng quy định tại Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

6. Chi phí mua bảo hiểm bắt buộc:

a) Đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc: Bên mua bảo hiểm được tính chi phí mua bảo hiểm bắt buộc vào giá thành sản phẩm, dịch vụ hoặc chi phí hoạt động kinh doanh (đối với cơ sở sản xuất kinh doanh) hoặc vào chi thường xuyên (đối với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức khác).

b) Chi phí mua bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng: Thực hiện theo quy định pháp luật về xây dựng và các quy định tại Nghị định này.

7. Thời hạn thanh toán phí bảo hiểm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đối với các hợp đồng bảo hiểm cho các công trình xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng quy định tại Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận thời hạn thanh toán phí bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm và không chậm hơn tiến độ thanh toán của hợp đồng xây dựng. Trong mọi trường hợp, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm không được vượt quá thời hạn bảo hiểm.

8. Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm đối với những khoản tiền phát sinh, tăng thêm do hành vi gian lận bảo hiểm theo quy định tại Bộ luật Hình sự.

9. Doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm từ 10% tổng mức trách nhiệm của mỗi hợp đồng tái bảo hiểm phải được xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s hoặc Fitch, “B++” theo A.M.Best, “Baal” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng tương đương của các tổ chức có chức năng, kinh nghiệm xếp hạng khác tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm giao kết hợp đồng tái bảo hiểm.

10. Các nội dung liên quan đến hợp đồng bảo hiểm không được quy định tại Nghị định này được thực hiện theo pháp luật kinh doanh bảo hiểm và pháp luật có liên quan.

Dẫn chiếu đến khoản 1, 2, 3 Điều 2 Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ghi nhận như sau:

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Chủ xe cơ giới tham gia giao thông, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

2. Cơ quan, tổ chức và cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ theo quy định của pháp luật phòng cháy và chữa cháy đối với bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

3. Chủ đầu tư, nhà thầu theo quy định của pháp luật xây dựng đối với bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng.

...

Một là, các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định là “bên mua bảo hiểm” phải mua bảo hiểm bắt buộc tại các doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm theo pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm các chủ thể có liên quan thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý, đồng thời tạo nguồn tài chính để bồi thường thiệt hại khi xảy ra rủi ro.

Hai là, việc tham gia bảo hiểm bắt buộc phải được thực hiện theo các điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm tối thiểu do Chính phủ ghi nhận. Tuy nhiên, ngoài các nội dung bắt buộc này, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có thể thỏa thuận mở rộng phạm vi bảo hiểm, tăng số tiền bảo hiểm hoặc bổ sung các điều kiện bảo hiểm khác phù hợp với quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm tách riêng phần bảo hiểm bắt buộc trong hợp đồng bảo hiểm. Sự ghi nhận này vừa bảo đảm tính bắt buộc của chế độ bảo hiểm vừa tạo sự linh hoạt để đáp ứng nhu cầu thực tế của các bên.

Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân không thuộc đối tượng phải mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định mua bảo hiểm trên cơ sở thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm và phù hợp với quy định pháp luật.

Ba là, trong bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, đối với mỗi xe cơ giới, trách nhiệm bồi thường bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới chỉ phát sinh theo một hợp đồng bảo hiểm duy nhất.

Bốn là, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm triển khai bảo hiểm bắt buộc theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép doanh nghiệp bảo hiểm được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như:

- Đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: Xe cơ giới hết niên hạn sử dụng theo quy định của pháp luật.

- Đối với bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc: Cơ sở thuộc diện phải thẩm duyệt thiết kế, thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy nhưng chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy của cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng.

- Đối với bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng: Bên mua bảo hiểm không đáp ứng đầy đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng theo Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định về các vấn đề liên quan như chi phí mua bảo hiểm bắt buộc, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm, trách nhiệm bồi thường cũng như các điều kiện đối với hoạt động tái bảo hiểm nhằm bảo đảm sự minh bạch và an toàn của hoạt động bảo hiểm. Cụ thể:

-  Về chi phí mua bảo hiểm bắt buộc, với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc: Bên mua bảo hiểm được tính chi phí mua bảo hiểm bắt buộc vào giá thành sản phẩm, dịch vụ hoặc chi phí hoạt động kinh doanh (đối với cơ sở sản xuất kinh doanh) hoặc vào chi thường xuyên (đối với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức khác). Còn chi phí mua bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng sẽ được thực hiện theo pháp luật về xây dựng và Nghị định số 67/2023/NĐ-CP.

- Về thời hạn thanh toán phí bảo hiểm sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đối với các hợp đồng bảo hiểm cho các công trình xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng quy định tại Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận thời hạn thanh toán phí bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm và không chậm hơn tiến độ thanh toán của hợp đồng xây dựng. Trong mọi trường hợp, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm không được vượt quá thời hạn bảo hiểm.

- Về trách nhiệm bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm đối với những khoản tiền phát sinh, tăng thêm do hành vi gian lận bảo hiểm theo quy định tại Bộ luật Hình sự.

Không những vậy, doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm từ 10% tổng mức trách nhiệm của mỗi hợp đồng tái bảo hiểm phải được xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s hoặc Fitch, “B++” theo A.M.Best, “Baal” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng tương đương của các tổ chức có chức năng, kinh nghiệm xếp hạng khác tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm giao kết hợp đồng tái bảo hiểm. Các nội dung liên quan đến hợp đồng bảo hiểm không được quy định tại Nghị định số 67/2023/NĐ-CP được thực hiện theo pháp luật kinh doanh bảo hiểm và pháp luật có liên quan.

Như vậy, các nguyên tắc chung khi tham gia bảo hiểm bắt buộc đã được pháp luật quy định khá đầy đủ và chặt chẽ, từ nghĩa vụ tham gia của các chủ thể, điều kiện thực hiện bảo hiểm cho đến trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm. Những nguyên tắc này góp phần bảo đảm việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc được thống nhất, minh bạch và hiệu quả, qua đó bảo vệ lợi ích công cộng và bảo đảm an toàn xã hội.

Trân trọng./.