MỤC LỤC

1. Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2025/HC-PT ngày 25/6/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế

2. Bản án hành chính phúc thẩm số 03/2025/HC-PT ngày 09/01/2025 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

3. Bản án hành chính phúc thẩm số 106/2024/HC-PT ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế

4. Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2023/HC-PT ngày 07/7/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

5. Bản án hành chính phúc thẩm số 202/2023/HC-PT ngày 24/02/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

6. Bản án hành chính phúc thẩm số 303/2025/HC-PT ngày 19/9/2025 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý thuế

7. Bản án hành chính phúc thẩm số 774/2025/HC-PT ngày 24/6/2025 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

8. Bản án hành chính phúc thẩm số 10/2024/HC-PT ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính

9. Bản án hành chính phúc thẩm số 1266/2023/HC-PT ngày 27/12/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế

10. Bản án hành chính phúc thẩm số 548/2023/HC-PT ngày 26/7/2023 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế

 

1. Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2025/HC-PT ngày 25/6/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế

Nội dung hủy án:

(i) Ông H khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 5254/TB-CCT ngày 07/08/2023 của Chi cục Thuế thành phố T Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản và buộc Chi cục thuế thành phố T phải hoàn trả số tiền thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản ông H đã nộp là 24.444.520 đồng (hai mươi bốn triệu, bốn trăm bốn mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi đồng).

Như nhận định tại mục [2.2]. Trong vụ án này, Công văn số 4064/CCT-TB&TK ngày 16/4/2024 của Chi cục Thuế thành phố T, là quyết định hành chính có liên quan. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết đối với Công văn số 4064/CCT-TB&TK vi phạm định tại khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

(ii) Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “ngày 17/7/2023, ông Trần Văn H cùng vợ là bà Hồ Thị M ký Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ, cho bên nhận chuyển nhượng bà Hồ Thị Mộng H2. Tuy nhiên, ngày 25/3/2024, vợ chồng ông H, bà M và bà H2 ký Văn bản thỏa thuận hủy bỏ văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, nên bà M không liên quan đến việc ông H khởi kiện...". Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định và không đưa bà Hồ Thị M (vợ ông Trần Văn H) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Xét, ông Trần Văn H và bà Hồ Thị M là vợ chồng, ngày 17/7/2023 vợ chồng ông H ký Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ, cho bên nhận chuyển nhượng bà Hồ Thị Mộng H2, với giá 1.222.226.022 đồng. Căn cứ vào Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ, ông H lập Tờ khai thuế thu nhập cá nhân và nộp tiền thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản số tiền 24.444.520 đồng. Như vậy, số tiền 24.444.520 đồng mà ông H đã nộp là tiền thuế thu nhập cá nhân của vợ chồng ông H, bà M. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Hồ Thị M (vợ ông Trần Văn H) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng quyền lợi của đương sự.

(iii) Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định tại Điều 136 Luật TTHC, không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định tại khoản 5 Điều 131, khoản 3 Điều 135 Luật Tố tụng hành chính.

2. Bản án hành chính phúc thẩm số 03/2025/HC-PT ngày 09/01/2025 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

Nội dung hủy án 

(i) Tại cấp phúc thẩm, phía người bị kiện cung cấp cho Hội đồng xét xử các Quyết định hành chính nêu trên và các đương sự thừa nhận các quyết định cưỡng chế này có chứa nội dung cưỡng chế số tiền mà Công ty TNHH T1 bị xử phạt theo các quyết định hành chính đang bị kiện.

Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định cưỡng chế của Chi cục trường Chi cục 12 đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chinh năm 2015 nên là quyết định hành chính và các quyết định hành chính này có liên quan đến quyết định hành chính bị kiện.

Căn cứ khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử như sau: “Hội đồng xét xử xem xét tình hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật huộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan".

Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện và Người khởi kiện cũng có yêu cầu Tòa án xem xét các quyết định trên và có yêu cầu khởi kiện bổ sung đối với các quyết định này.

Như vậy, khi giải quyết các yêu cầu khởi kiện của Công ty T1, Tòa án cần xem xét tính hợp pháp của các quyết định cưỡng chế nêu trên mới đảm bảo việc giải quyết vụ án được toàn diện, đúng pháp luật.

(ii) Tại thời điểm Chi cục trưởng Chi cục T2 ban hành các Quyết định cưỡng chế thì Tòa án nhân dân Quận 10 vẫn chưa xét xử vụ án. Vì vậy, việc Tòa ân nhân dân Quận 10 giải quyết vụ án trên nhưng không xem xét tính hợp pháp của các Quyết định cưỡng chế của Chi cục trưởng Chi cục 12 là chưa phù hợp quy định của pháp luật.

3. Bản án hành chính phúc thẩm số 106/2024/HC-PT ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế

Nội dung hủy án 

Tại điểm c khoản 1 Điều 61 của Luật Tố tụng hành chính về Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định: “1) Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;... c) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có kiến thức pháp lý, chưa bị kết án, hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an”. Ông Mai Công H1 là cán bộ Phòng Thanh tra - Kiểm tra 2, Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk thuộc đối tượng không được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 61 của Luật Tố tụng hành chính như đã nêu trên. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xác định Ông Mai Công H1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì vậy, cần phải hủy toàn bộ bản án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm lại để xác định lại tư cách người tham gia tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

4. Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2023/HC-PT ngày 07/7/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

Nội dung hủy án 

(i) Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Điều 30 của Luật tố tụng hành chính quy định, đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trừ những quyết định hành chính, hành vi hành chính quy định tại khoản 1 của Điều này. Đối chiếu với quy định đã viện dẫn nêu trên thì yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu Tòa án buộc Chi cục Thuế khu vực A – Đ – K phải hoàn trả cho bà Trần Thị Ngọc D số tiền thu vượt là 107.525.000 đồng không phải là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện này của bà Trần Thị Ngọc D, buộc Chi cục Thuế khu vực A – Đ – K phải hoàn trả cho bà D số tiền thu vượt là 107.525.000 đồng là không đúng quy định của Luật tố tụng hành chính, không thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử quy định tại điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính. Do đó, cần phải hủy phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này của bà Trần Thị Ngọc D theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 143, điểm đ khoản 1 Điều 123 của Luật tố tụng hành chính.

(ii) Xét nội dung kháng cáo thấy rằng, Phiếu chuyển thông tin số 2892 không phải là quyết định hành chính bị kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3, Điều 30 của Luật tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án không có thẩm quyền xem xét, hủy Phiếu chuyển thông tin số 2892 ngày 26/11/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 10 của Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22 tháng 6 năm 2016 giữa Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất thì văn phòng đăng ký đất đai là cơ quan chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin ghi trên Phiếu chuyển thông tin. Đồng thời theo quy định tại Điều 29 của Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính và Điều 15 của Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai thì Văn phòng đăng ký đất đai là cơ quan quản lý hồ sơ địa chính và cũng là cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở địa phương, do đó Văn phòng đăng ký đất đai buộc phải biết và có đủ điều kiện để xác định mục đích sử dụng trước khi chuyển mục đích đối với thửa đất đề nghị chuyển mục đích của bà Trần Thị Ngọc D là đất có nguồn gốc là đất vườn, ao. Do đó, cần buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai chỉ đạo Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A thực hiện nhiệm vụ, công vụ ban hành Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính mới đối với trường hợp của bà Trần Thị Ngọc D, mục đích sử dụng đất trước khi chuyển mục đích là đất trồng cây lâu năm (có nguồn gốc là đất vườn, ao) để Chi cục Thuế khu vực A – Đ- K ra thông báo nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 của Nghị định số 45.

(iii) Về xem xét quyết định hành chính có liên quan

Ngoài ra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện, sau khi nộp đủ tiền sử dụng đất theo Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2060311- TK0005531/TB-CCT ngày 30/11/2022 của Chi cục thuế khu vực A – Đ – K, bà Trần Thị Ngọc D đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai thông qua Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A xác nhận nội dung đăng ký biến động “Chuyển mục đích sử dụng đất 100m2 đất ở theo Quyết định số 2316/QĐ- UBND ngày 19/11/2020 của UBND thị xã A” vào ngày 30/12/2020. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đối với quyết định hành chính có liên quan này theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và Điều 191 của Luật tố tụng hành chính là thiếu sót cần rút kinh nghiệm. Trường hợp này, Tòa án hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2060311-TK0005531/TB-CCT ngày 30/11/2020 của Chi cục thuế khu vực A – Đ – K thì căn cứ để xác nhận nội dung biến động không còn, do đó cần phải hủy nội dung xác nhận đăng ký biến động doVăn phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai thông qua Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A xác nhận ngày 30/12/2020 tại trang tư của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtsố AE 373041 ngày 19/5/2006 do UBND thị xã A cấp cho bà Trần Thị Ngọc D.

5. Bản án hành chính phúc thẩm số 202/2023/HC-PT ngày 24/02/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

Nội dung hủy án 

(i) Về tư cách đương sự tham gia tố tụng: Quyết định số 2602/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 “Về thành lập văn phòng đăng ký đất đai Thành phố trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường” của của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 270/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về thành lập Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, quy định Chi nhánh VPĐKĐĐ là đơn vị trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố, Chi nhánh được giao thực hiện 1 phần nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố.

Khoản 4 Điều 10 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 quy định Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm:

a) Lập Phiếu chuyển thông tin (bao gồm cả trường hợp hồ sơ người sử dụng đất nộp trực tiếp tại Văn phòng đăng ký đất đai và hồ sơ do các cơ quan quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 2 Điều 2 Thông tư này chuyển đến)...”

Từ các cơ sở trên, chủ thể tham gia tố tụng phải là Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T là đương sự trong vụ án là không đúng.

(ii) Xét thấy nội dung cập nhật nợ tiền sử dụng đất 1.116.720.000 đồng nói trên của CN VPĐKĐĐ thành phố T là căn cứ vào Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB1970103-TK0012644/TB-CCT, Tòa án cấp sơ thẩm xử hủy các thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục Thuế nhưng chưa xem xét nội dung cập nhật trên là chưa đảm bảo việc giải quyết vụ án được toàn diện và triệt để.

6. Bản án hành chính phúc thẩm số 303/2025/HC-PT ngày 19/9/2025 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý thuế

Nội dung sửa án 

(i) Mặc dù người khởi kiện không yêu cầu xem xét hủy các thông báo này và các thông báo tạm ngưng hoàn thuế nêu trên đã hết thời hiệu khởi kiện; tuy nhiên, Tòa án vẫn phải xem xét tính hợp pháp của các thông báo tạm ngưng hoàn thuế nêu trên theo quy định tại Điều 193 Luật tố tụng hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy Thông báo về việc không được hoàn thuế số 5305/TB-CTTPHCM ngày 15/4/2022 nhưng không tuyên hủy 17 Thông báo tạm ngưng hoàn thuế đã ban hành liên quan đến việc ngưng hoàn thuế trước đó đối với các hợp đồng đang xem xét trong vụ án, là có thiếu sót.

(ii) Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng: “Theo Khoản 1 Điều 36 của Thông tư số 80/2021/TT-BTC việc ban hành Thông báo không hoàn thuế (nếu có) sau ngày 01/01/2022 được thực hiện theo mẫu 04/TB-HT ban hành kèm theo Thông Ir 80/2021/TT-BTC nêu trên. Như vậy, Thông báo 5305/TB-CTTPHCM ngày 15/4/2022 về việc không được hoàn thuế, là không đúng về mặt hình thức". Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 87 Thông tư số 80/2021/TT-BTC nêu trên có quy định về hiệu lực thi hành như sau: "Mẫu biểu hồ sơ khai thuế quy định tại Thông tư này được áp dụng đối với các kỳ tính thuế bắt đầu từ ngày 01/01/2022 trở đi. Đối với khai quyết toán thuế của kỳ tính thuế năm 2021 cũng được áp dụng theo mẫu biểu hồ sơ quy định tại Thông tư này". Do đó, Cục trưởng Cục thuế Thành phố H áp dụng biểu mẫu cũ để ban hành thông báo liên quan đến việc hoàn thuế cho doanh nghiệp trong giai đoạn tính thuế từ tháng 11/2018 đến tháng 5/2020, là không vi phạm về hình thức.

(iii) Công ty F1 khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 5305/TB-CTTPHCM nêu trên với 03 lý do sau: (1) Công ty đã cung cấp đầy đủ hồ sơ hoàn thuế GTGT theo quy định; (2) Theo Văn bản số 3880/CSKT-Đ4 ngày 30/12/2022 và Văn bản số 3371/CSKT-Đ5 ngày 24/6/2024 của Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an Thành phố T6 (PC03) thông báo kết quả xác minh thông tin nghi vẫn vi phạm trong việc hoàn thuế của Công ty F1 thể hiện nội dung: “Có đầu vào các doanh nghiệp cung cấp bột sắn cho công ty F1; có đầu ra xuất khẩu tiểu ngạch theo đường bộ đất liền với Trung Quốc.... dòng tiền thanh toán từ các đối tác Trung Quốc khớp dùng với giá trị các Hợp đồng mua bán mà Công ty F1 ký kết... Do đó chưa có căn cứ xác định dầu hiệu hành vi xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc để lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Công ty F1"; (3) Tại khoản 3 Điều 2 của của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân, thuế lợi tức, thuế GTGT không bị điều chỉnh bằng Hiệp định này nên việc trao đổi thông tin giữa Cơ quan Thuế Trung Quốc và Cơ quan T9 là không đúng.

(iv) Như vậy, Cục trưởng Cục Thuế Thành phố H ban hành Thông báo số 5305/TB-CTTPHCM ngày 15/4/2022 xác định không hoàn thuế GTGT cho Công ty F1 với số tiền 127.018.925.833 đồng (tương ứng doanh thu xuất qua đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc), là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

(v) Đối với nội dung của 17 thông báo tạm ngưng hoàn thuế:

Như đã nhận định ở trên, Thông báo số 5305/ТВ-СТГРНCM ngày 15/4/2022 xác định không hoàn thuế GTGT cho Công ty F1 với số tiền 127.018.925.833 đồng (tương ứng doanh thu xuất qua đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc), là có cơ sở, đúng pháp luật. Vì vậy, việc Cục Thuế Thành phố H ban hành 17 thông báo tạm ngưng hoàn thuế đối với Công ty F1 trước đó bao gồm Thông báo số 2258/TB-CT ngày 06/02/2019, số 25857/TB-CT ngày 26/12/2019, số 25860/TB-CT ngày 16/12/2019, số 25890/TB-CT ngày 26/12/2019, số 29281/TB-CT ngày 27/9/2019, số 29278/TB-CT ngày 27/9/2019, số 2304/TB-CT ngày 07/02/2020, số 6669/TB-CT ngày 16/4/2020, số 19456/TB-CT ngày 11/8/2020, số 19021/TB-CT ngày 06/8/2020, số 3229/TB-CT ngày 25/02/2020, số 5683/TB-CT ngày 24/3/2020, số 4603/TB-CT ngày 09/3/2020, số 6915/TB-CT ngày 20/4/2020, số 13822/TB-CT ngày 19/6/2020, số 3151/TB-CT ngày 24/12/2020 và số 2304/TB-CT ngày 07/12/2020, cũng là đúng quy định.

7. Bản án hành chính phúc thẩm số 774/2025/HC-PT ngày 24/6/2025 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

Nội dung sửa án 

(i) Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm nhận định 150m2 đất nông nghiệp của ông T có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền với nhà ở trên đất được chủ sử dụng tách ra để chuyển quyền, nên phải căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ T4, về hướng dẫn một số điều của Nghị định số: 45/2014/NĐ- CP15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất thì việc thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc hủy các quyết định hành chính bị kiện và buộc Ủy ban nhân dân thành phố V, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V, Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu - Côn Đảo thực hiện nhiệm vụ công vụ xác định nghĩa vụ tài chính chuyển đổi mục đích sử dụng đất của ông Đào Quốc T theo đúng quy định của pháp luật, là không có căn cứ.

(ii) Quyết định số 13896/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành ngày 03/12/2021 nhưng đến ngày 08/7/2024, ông Đào Quốc T mới có đơn khởi kiện bổ sung nhưng thuộc trường hợp không hết thời hiệu khởi kiện, bởi lẽ ngày 08/12/2022, ông T khởi kiện đối với Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2171701-TK0027366/TB-CCT ngày 14 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu - C là trong thời hạn luật định; Quyết định số 13896/QĐ- UBND của Ủy ban nhân dân thành phố V là quyết định hành chính liên quan, cần phải xem xét để giải quyết triệt để vụ án.

(iii) Tòa án cấp sơ thẩm xác định Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng vì phải xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mới đúng. Tuy nhiên, sai sót này của Tòa án cấp sơ thẩm không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không hủy bản án sơ thẩm vì lý do này.

(iv) Tòa án cấp sơ thẩm nêu đối tượng khởi kiện là Phiếu nộp thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính số 104057 ngày 10 tháng 12 năm 2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V là không chính xác. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại là P1 chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 104057 ngày 07 tháng 12 năm 2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V cho chính xác.

8. Bản án hành chính phúc thẩm số 10/2024/HC-PT ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính

Nội dung sửa án 

(i) Như vậy, đến năm 2007, Công ty Cổ phần P (Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2) đã nộp thuế sử dụng đất xong vào năm 2007 và được Chi cục Thuế quận T1 xác nhận bằng văn bản là đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, không nợ đọng. Tiếp đó vào năm 2012 và 2014 Công ty có phát sinh phải nộp thêm 2 khoản tiền sử dụng đất đối với một phần diện tích đất trong cùng dự án này do trước đây còn sót chưa nộp thì Chi cục Thuế quận T1 cũng chỉ thu theo giá đất 700.000đ/m2, mà không tính theo giá mới và 02 khoản thu này không thuộc trường hợp phải truy nộp. Do đó, Cục T cho rằng Công ty Đ1 phải nộp thêm tiền sử dụng đất theo giá 2.800.000đ/m2 là không phù hợp.

(ii) Mặt khác, Công Ty Đ1 cho rằng Cục Thuế ra Thông báo số 8000/TB- CTTPHCM ngày 29/4/2021 với lý do tính, thu tiền sử dụng đất không đúng quy định là trái pháp luật về quản lý thuế quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 16 của Luật Quản lý Thuế 2019; và theo điểm b khoản 2 Điều 22 của Luật Quản lý thuế 2019 có quy định: “b) Trường hợp Thanh tra nhà nước không trực tiếp thanh tra đối với người nộp thuế mà thực hiện thanh tra tại cơ quan quản lý thuế có nội dung kiến nghị nêu trong kết luận thanh tra liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thì Thanh tra nhà nước gửi bản trích sao có kết luận liên quan đến nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế để thực hiện. Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tổ chức thực hiện kết luận của Thanh tra nhà nước. Trường hợp người nộp thuế không đồng ý với nghĩa vụ thuế phải nộp thì người nộp thuế có văn bản đề nghị cơ quan quản lý thuế, Thanh tra nhà nước xem xét lại nghĩa vụ thuế phải nộp. Căn cứ đề nghị của người nộp thuế, Thanh tra nhà nước chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện việc xác định chính xác nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.” nhưng Công ty Đ1 không nhận được bản kết luận này. Hơn nữa, Công ty sáp nhập là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 vào công ty Đ1 năm 2015, khi đó Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 được xác định là không còn nợ đọng tiền thuế, có xác nhận của cơ quan quản lý thuế đó là Chi cục Thuế quận T1. Từ nội dung xác nhận của Chi cục Thuế quận T1, nên bên sáp nhập và bên nhận sáp nhập đã xác định quyền, nghĩa vụ về tài chính trong giao dịch sáp nhập với tình trạng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 không nợ còn đọng thuế. Nếu bây giờ mà phát sinh khoản truy nộp thuế này thì rất thiệt hại cho công ty Đ1, khi đó trách nhiệm của Chi cục Thuế quận T1 là như thế nào. Ngoài ra, nghĩa vụ nộp thuế quyền sử dụng đất là của công ty cũ trước đây, Công ty này đã hạch toán kế toán các khoản lợi nhuận và chi các khoản này..., nên nếu phải nộp khoản tiền thuế này cho Nhà nước thì thiệt hại cho công ty Đ1 là rất lớn. Hội đồng xét xử xét thấy, trước khi làm thủ tục sáp nhập, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 được Chi cục Thuế quận T1 xác nhận bằng văn bản là đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, không nợ đọng và từ cơ sở này hai bên mới thực hiện ký kết hợp đồng sáp nhập Công ty. Hơn nữa, sau khi Thanh tra thuế tại cơ quan quản lý thuế thì Thanh tra Nhà nước lại không gửi bản trích sao kết luận liên quan đến nghĩa vụ thuế cho Công ty Đ1 là không đúng quy định của pháp luật, việc này đã tước đi quyền kiến nghị của Công ty Đ1 đối với kết luận thanh tra. Do đó, lời trình bày của Công ty Đ1 là có căn cứ.

(iii) Mặt khác, Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số 8000/TB-CTTPHCM ngày 29/4/2021 của Cục Thuế Thành phố H có nội dung không đúng quy định như: Thông báo không thể hiện vị trí, Bảng giá đất, mục đích sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất. Diện tích đất phải nộp tiền bổ sung theo trình bày của Cục thuế Thành phố H tại Tòa án là 14.051,39m2, nhưng trong Thông báo này lại ghi diện tích đất bằng 30.780m2 là mâu thuẫn.

9. Bản án hành chính phúc thẩm số 1266/2023/HC-PT ngày 27/12/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế

Nội dung sửa án 

Chi cục thuế quận T ban hành các Thông báo số 53/TB-CCT ngày 01/12/2020, Thông báo số 53-1/TB-CCT ngày 14/12/2020 và Thông báo số 29/TB07-CCT ngày 20/4/2021 của Chi cục Thuế quận T để yêu cầu bà T nộp số tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp tính từ ngày 31/01/2019 theo Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB1970133-TK0029442/TB-CCT ngày 31/12/2019 là chưa đúng. Vì ngay khi nộp hồ sơ xin chuyển mục đích đích sử dụng đất, bà T đã có đơn và được cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân quận T cho nợ tiền sử dụng đất, nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất của bà T chỉ phát sinh khi người có thẩm quyền yêu cầu phải nộp tiền sử dụng đất (trường hợp này là Ủy ban nhân dân quận T) do đó bà T chỉ phải chịu khoản tiền chậm nộp kể từ ngày 16/8/2020 cho đến ngày nộp tiền là ngày 04/11/2020. Việc Chi cục thuế quận T ra thông báo, yêu cầu bà T phải nộp tiền chậm trả là đúng, nhưng tính số ngày chậm nộp chưa chính xác nên việc người khởi kiện yêu cầu hủy các thông báo số 53/TB-CCT ngày 01/12/2020, Thông báo số 53-1/TB-CCT ngày 14/12/2020 và Thông báo số 29/TB07-CCT ngày 20/4/2021 của Chi cục Thuế quận T để tính lại cho chính xác là có cơ sở. Việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chi cục thuế thành phố T cho rằng bà T vẫn phải nộp đủ tiền chậm nộp, sau đó có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường Nhà nước đối với Ủy ban nhân dân thành phố T về nếu thấy có thiệt hại là không đúng, bởi lẽ cơ quan, cá nhân nào sai thì phải chịu trách nhiệm khắc phục hoặc chế tài đối với hành vi của mình, bà T vi phạm thời hạn nộp tiền sử dụng đất giai đoạn nào thì chỉ phải chịu nộp phạt đối với giai đoạn đó. Từ những nhận định nêu trên, yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là có cơ sở chấp nhận một phần. Bà T vẫn phải nộp tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp theo quy định.

10. Bản án hành chính phúc thẩm số 548/2023/HC-PT ngày 26/7/2023 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế

Nội dung sửa án 

(i) Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện tại Biên bản tham vấn số 16/BBTVTG/HQCKLC ngày 21/12/2017 và Biên bản tham vấn số 03/BBTVTG/HQCKLC ngày 16/5/2018, đại diện Công ty PTS1 đã tiến hành tham vấn trực tiếp Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai về việc xác định trị giá lô hàng xuất khẩu (quặng sắt). Tại các biên bản tham vấn, căn cứ hồ sơ xuất khẩu; các chứng cứ, tài liệu do Công ty giải trình và theo quy định của pháp luật, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã thông báo kết quả, ý kiến sau tham vấn với nội dung là: Chi cục Hải quan không đủ căn cứ để bác bỏ trị giá khai báo mặt hàng quặng sắt của Công ty. Trên cơ sở mà doanh nghiệp đã cung cấp, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành các biện pháp nghiệp vụ khác để làm cơ sở xác định chính xác trị giá hải quan. Như vậy, tại thời điểm này trị giá khai báo hàng hóa của doanh nghiệp chưa được cơ quan hải quan xác nhận tính xác thực theo quy định. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng trong quá trình thực hiện thủ tục xuất khẩu, Chi cục Hải quan đã tiến hành kiểm tra hồ sơ khai báo, tham vấn trị giá tính thuế và đồng ý với kết quả xác định trị giá tính thuế của Công ty PTS1 là không đúng.

(ii) Như vậy, việc Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã ban hành Quyết định ấn định thuế số 182/QĐ-HQCKLC ngày 24/9/2019 để yêu cầu Công ty PTS1 nộp bổ sung số tiền thuế xuất khẩu quặng sắt kê khai thiếu là 14.291.796.800 đồng là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

(iii) Việc Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai không chờ kết quả kiểm tra sau thông quan mà ban hành quyết định ấn định thuế theo kết quả tính toán của Kiểm toán Nhà nước là không trái quy định, vì pháp luật về quản lý thuế không quy định cơ quan hải quan phải kiểm tra sau thông quan xong mới được ban hành quyết định ấn định thuế. Pháp Luật Quản lý thuế cho phép cơ quan hải quan ban hành quyết định ấn định thuế khi có kết quả kiểm tra, bao gồm việc kiểm tra của cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước khác, trong đó có Cơ quan kiểm toán nhà nước.

(iv) Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai ghi rõ tại Điều 2 Quyết định số 182/QĐ-HQCKLC ngày 24/9/2019 là “khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP” là đúng với hướng dẫn tại Mẫu số 07/QĐAĐT/TXNK nêu trên. Việc Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã phát hiện Công ty kê khai trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu không đúng với trị giá giao dịch thực tế ghi trên Hợp đồng mua bán (phù hợp quy định tại điểm a và điểm c khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP) và Công ty đã bị cơ quan kiểm toán nhà nước phát hiện là kê khai thiếu tiền thuế xuất khẩu (phù hợp quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP). Do vậy việc cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế đối với Công ty là đúng quy định của khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP. Việc ấn định thuế của cơ quan hải quan đã bảo đảm khách quan, công bằng theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp.

(v) Tại Quyết định ấn định thuế thể hiện: “Thời hạn nộp thuế ấn định được tính từ ngày đăng ký tờ khai hải quan (trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa)” là chưa chính xác. Tại Quyết định số 41/QĐ-HQCKLC ngày 09/02/2021, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã sửa đổi một số nội dung Quyết định số 182/QĐ-HQCKLC ngày 24/9/2019, trong đó có nội dung xác định lại “thời hạn nộp tiền thuế ấn định được áp dụng theo thời hạn nộp thuế của tờ khai đó” là đúng pháp luật; nội dung này không ảnh hưởng đến căn cứ, lí do và số tiền thuế đã ấn định đối với Công ty PTS1.

(vi) Đối với Quyết định số 50/QĐ-XPVPHC ngày 12/3/2020 của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; có đủ căn cứ xác định, Công ty PTS1 đã có hành vi kê khai sai làm thiếu số tiền thuế phải nộp theo quy định. Hành vi của Công ty thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 2 Điều 8 Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan (đã được sửa đổi tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ). Ngày 14/01/2020, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan đối với Công ty PTS1; việc lập biên bản vi phạm hành chính nêu trên đối với Công ty bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; do đó, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan đối với Công ty PTS1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

(vii) Sau khi xét xử sơ thẩm, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã ban hành Quyết định số 41/QĐ-HQCKLC ngày 09/02/2021 sửa đổi một số nội dung Quyết định số 182/QĐ-HQCKLC ngày 24/9/2019 của Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai về việc ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu (trong đó có việc xác định lại thời hạn nộp tiền ấn định thuế…) nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên không làm thay đổi nội dung quyết định ban đầu về căn cứ, lí do, số tiền ấn định thuế; nội dung thay đổi không ảnh hưởng đến yêu cầu, phạm vi khởi kiện của đương sự trong vụ án. Việc Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai đã ban hành các quyết định ấn định thuế, xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty PTS1 là đúng pháp luật.

(viii) Do vậy, Chi Cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai ban hành Quyết định số 36/QĐ-HQCKLC ngày 10/3/2020 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng hình thức trích tiền gửi tại Ngân hàng nộp Ngân sách Nhà nước, Quyết định số 42/QĐ-HQCKLC ngày 12/3/2020 của Chi Cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng hình thức trích tiền gửi tại Ngân hàng nộp Ngân sách Nhà nước và Quyết định hành chính số 92/QĐ-HQCKLC ngày 16/4/2020 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là có cơ sở, đúng pháp luật.