Nguồn án lệ về việc tranh chấp về thừa kế di sản (Quyết định giám đốc thẩm số 50/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ DI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 50/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 50/2023/DS-GĐT ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã K1, tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.
Nội dung hủy án:
“[3] Căn cứ vào các biên bản xác minh ngày 16/10/2019 tại Ủy ban nhân dân xã K3; lời khai của những người làm chứng như ông Đỗ Văn Mồi, ông Đỗ Văn Cựng, bà Phan Thị Nhỏ là những người sống tại địa phương, ông Đỗ Văn Em (cán bộ địa chính xã trước đây) và lời khai của các đương sự trong vụ án, có cơ sở để xác định: Phần đất có diện tích 2.164,5m2, thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã K3, thị xã K1, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn S1 và cụ Nguyễn Thị C2 để lại. Ngày 02/7/2003, Bà T3, Bà T2, Bà G1, Bà T1 cùng Ông Nguyễn Thành C1 (chồng Bà T2), anh Nguyễn Quốc T4 (con Bà T2) đã lập “Giấy thỏa thuận” với nội dung:“Phần đất gò có diện tích 3.200m2 tọa lạc tại Gò Gia, ấp K2, xã K3, huyện K1, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc của cha mẹ là ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị C2; phần đất trên là di sản thừa kế của các chị em, vì diện tích đất nhỏ nên để thuận tiện cho việc đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên trước đây các chị em tôi những người có tên trên đồng ý để cho Nguyễn Ngọc T2 đại diện các thành viên khác đứng tên xin đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gò trên; nay các cơ quan có thẩm quyền đã cấp cho hộ và Nguyễn Thị Ngọc Thủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 480 ngày 27/01/1999...”. Thấy rằng, phần thông tin về diện tích đất, thửa đất tại Giấy thỏa thuận không chính xác so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Bà T2. Tuy nhiên, các đương sự đều xác định cụ S1 và cụ C2 không để lại tài sản nào khác ngoài phần đất tranh chấp. Vấn đề này lẽ ra phải được Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác minh làm rõ trong quá trình tố tụng để có cơ sở xem xét một cách thận trọng và chính xác hơn. Trường hợp không có tài liệu chứng cứ nào khác thì phải xác định phần đất tranh chấp do cụ C2, cụ S1 để lại chính là phần đất các đương sự lập giấy thỏa thuận ngày 02/7/2003.
[4] Mặc dù chữ ký và dấu vân tay của Bà T2, Ông C1, anh T4 tại Giấy thỏa thuận ngày 02/7/2003 không đủ điều kiện để giám định và Bà T2 cho rằng không ký vào văn bản thỏa thuận nhưng xem xét khách quan, toàn diện các chứng cứ khác đã thu thập cho thấy: Tại Công văn số 78/UBND-KT ngày 24/4/2018 của Ủy ban nhân dân xã K3 xác định “vào ngày 04/7/2003 Ủy ban nhân dân xã K3 có chứng thực chữ ký và dấu lăn tay trong giấy thỏa thuận của gia đình Bà Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Ngọc T2, do chủ tịch Thân Văn Hợp xác nhận”. Theo lời khai của ông Hợp thì chữ ký trong giấy thỏa thuận có 06 người gồm Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Ngọc G1, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Thành Can, Nguyễn Quốc Trường, nhưng thực tế chỉ có 05, riêng Ông Nguyễn Thành C1 không có mặt nên Ủy ban nhân dân xã K3 chỉ xác nhận chữ ký và dấu lăn tay của 05 người. Theo Kết luận giám định số 3657/C54B ngày 19/12/2017 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thì chữ viết họ tên “Nguyễn Quốc Trường” dưới mục “Đồng ký tên” là do Ông T4 - con Bà T2 viết ra. Kết hợp các tình tiết đã phân tích nêu trên có cơ sở xác định các đương sự (bao gồm Bà T2) đến Ủy ban nhân dân xã K3 chứng thực “Giấy thỏa thuận” là sự kiện có thật.
[4] Với những căn cứ như đã phân tích có cơ sở xác định phần đất tranh là tài sản chung của các con cụ S1, cụ C2 gồm Bà G1, Bà T2, Bà T1, Bà T3. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố “Giấy thỏa thuận” ngày 02/7/2003 vô hiệu để bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là không đúng theo tinh thần Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Khi giải quyết lại vụ án cần phải xem xét công sức đóng góp quản lý đối với tài sản của Bà T2, đồng thời căn cứ nhu cầu sử dụng đất của các thừa kế để phân chia di sản mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.”