Giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?
Giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu về các quy định áp dụng đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Vậy việc giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng được giải thích như thế nào?
Trả lời:
1. Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng được giải thích như thế nào?
Để phục vụ công tác quản lý, giám sát của Bộ Quốc phòng, cần xác định rõ doanh nghiệp nào là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng. Nội dung này được giải thích tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 06/2024/TT-BQP ngày 24/01/2024 của Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng (sau đây gọi tắt là "Thông tư số 06/2024/TT-BQP"), cụ thể như sau:
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…
3. Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng bao gồm doanh nghiệp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 2 Thông tư này do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý hoặc do đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng quy định tại khoản 2 Điều này quản lý.
…"
Dẫn chiếu đến khoản 1, khoản 2 Điều 2 và khoản 2 Điều 3 Thông tư số 06/2024/TT-BQP quy định như sau:
1. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận lại là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh), hoặc được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định công nhận, công nhận lại là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ).
2. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết (trừ doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này) do Bộ Quốc phòng thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định công nhận, công nhận lại là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ).
…"
Và
"Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…
2. Đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng, Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Ban Cơ yếu Chính phủ được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao quản lý doanh nghiệp, phân cấp thực hiện một số quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 2 Thông tư này.
…"
Theo đó, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng bao gồm doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% và dưới 100% vốn điều lệ. Những doanh nghiệp này do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý hoặc do đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp trực tiếp quản lý. Việc xác định cụ thể nhóm doanh nghiệp theo phương thức trên giúp thống nhất phạm vi nhận diện doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng. Đây là căn cứ để xác định đúng đối tượng áp dụng các quy định có liên quan, tránh nhầm lẫn với doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an hoặc cơ quan, tổ chức khác. Đồng thời, việc làm rõ chủ thể quản lý giúp xác định cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trực tiếp quản lý từng doanh nghiệp, hỗ trợ triển khai các quy định pháp luật và chính sách liên quan phù hợp với cơ cấu quản lý trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
2. Giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?
Nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh được thực hiện thống nhất và đạt hiệu quả cao, việc thiết lập cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là rất cần thiết. Nội dung này được pháp luật ghi nhận tại Điều 12 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/04/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 16/2023/NĐ-CP"), cụ thể như sau:
1. Việc giao nhiệm vụ, đặt hàng cho doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; giá, đơn giá hoặc chi phí để sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Trước ngày 31 tháng 8 hằng năm, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ đồng thời gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tình hình hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh quản lý trong năm trước liền kề gồm: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; tình hình thực hiện sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; kết quả triển khai chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động tại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh quy định Nghị định này."
* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).
Theo đó, việc giao nhiệm vụ, đặt hàng cho doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, cũng như giá, đơn giá hoặc chi phí để sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Nội dung này đặt việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ và xác định các khoản chi phí liên quan trong khuôn khổ hướng dẫn chuyên ngành của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động quốc phòng, an ninh. Qua đó, doanh nghiệp có căn cứ triển khai nhiệm vụ được giao, đồng thời các chủ thể liên quan có cơ sở xác định giá, đơn giá hoặc chi phí theo hướng dẫn áp dụng, phục vụ việc quản lý nguồn lực và kinh phí thực hiện nhiệm vụ.
Về hoạt động kiểm tra, giám sát, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được giao quản lý theo pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Hoạt động kiểm tra, giám sát giúp Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xem xét mức độ tuân thủ pháp luật, tình hình sản xuất kinh doanh và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, từ đó, phát hiện những hạn chế, sai sót hoặc vấn đề cần chấn chỉnh. Như vậy, khả năng kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp được tăng cường, góp phần bảo vệ vốn, tài sản nhà nước và bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được triển khai theo yêu cầu.
Về nội dung báo cáo, trước ngày 31/08 hằng năm, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tình hình hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh quản lý trong năm trước liền kề gồm: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; Tình hình thực hiện sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; Kết quả triển khai chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động tại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh quy định Nghị định số 16/2023/NĐ-CP. Việc tổng hợp đồng thời những nội dung trên giúp cơ quan có thẩm quyền đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trên nhiều phương diện, xem xét mối quan hệ giữa kết quả sản xuất, kinh doanh với việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cũng như mức độ triển khai các chính sách dành cho doanh nghiệp và người lao động. Đây cũng là nguồn thông tin phục vụ việc nhận diện những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện để xem xét biện pháp quản lý phù hợp.
Như vậy, pháp luật đã quy định tương đối rõ ràng về giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Việc tổng hợp thông tin về kết quả kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành và triển khai chính sách giúp cơ quan quản lý có cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, kịp thời nhận diện những vấn đề phát sinh và điều chỉnh biện pháp quản lý phù hợp với đặc thù của từng nhóm doanh nghiệp.
Trân trọng./.