Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Doanh nghiệp của tôi đang hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và có nhu cầu được công nhận là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Vậy pháp luật quy định như thế nào về điều kiện, trình tự, thủ tục công nhận và công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh là gì?

2. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh là gì?

Để được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và hưởng các cơ chế đặc thù, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời các điều kiện chặt chẽ về cơ cấu sở hữu vốn, lĩnh vực hoạt động và nhiệm vụ được giao. Nội dung này được pháp luật ghi nhận tại Điều 3 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/04/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 16/2023/NĐ-CP"), cụ thể như sau:

"Điều 3. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh

Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:

1. Là một trong các loại hình doanh nghiệp sau:

a) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

b) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nắm giữ 100% vốn điều lệ.

c) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu 100% vốn điều lệ của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong đó có ít nhất một doanh nghiệp là doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

2. Có ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh kèm theo Nghị định này.

3. Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng nguồn lực từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp."

Theo đó, doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp thuộc một trong các loại hình doanh nghiệp sau:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có 100% vốn điều lệ được sở hữu bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu 100% vốn điều lệ của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong đó có ít nhất một doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Dựa vào cơ cấu sở hữu vốn của các loại hình doanh nghiệp nêu trên có thể hiểu rằng, Nhà nước nắm quyền chi phối tại các doanh nghiệp này, không cho phép sự tham gia góp vốn của các chủ thể tư nhân hay nước ngoài. Bởi lẽ, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh có thể đảm nhiệm việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ và thực hiện những nhiệm vụ gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Do đó, việc thiết lập cơ cấu sở hữu vốn như trên giúp kiểm soát chặt chẽ nguồn lực, hoạt động và việc thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp, hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến các lợi ích liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Thứ hai, doanh nghiệp có ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh kèm theo Nghị định số 16/2023/NĐ-CP. Các ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động này đều mang tính đặc thù là trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Việc xác định cụ thể danh mục hoạt động giúp giới hạn phạm vi doanh nghiệp được xem xét công nhận, tránh việc chỉ dựa vào cơ cấu sở hữu vốn hoặc cơ quan quản lý để xác định tư cách doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, doanh nghiệp được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng nguồn lực từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp. Có thể thấy, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh không tự mình sản xuất theo nhu cầu thị trường như các doanh nghiệp kinh doanh thông thường mà tiến hành sản xuất, thực hiện nhiệm vụ theo chỉ tiêu, kế hoạch phục vụ quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, việc xác định rõ nguồn lực tài chính sẽ bảo đảm sự minh bạch và định hướng doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoạt động theo đúng mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp.

Như vậy, bằng cách siết chặt quy định từ cơ cấu sở hữu vốn đến ngành, lĩnh vực, địa bàn hoạt động và mục tiêu nhiệm vụ, các bí mật quân sự, an ninh quốc gia được bảo mật, đồng thời, hạn chế nguy cơ thất thoát vốn, tài sản nhà nước. Bên cạnh đó, việc thiết lập cụ thể các tiêu chí xác định doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh sẽ giúp Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tập trung nguồn lực và ngân sách đúng chỗ, giao đúng việc cho những đơn vị có đủ năng lực và tư cách thực hiện các nhiệm vụ chiến lược.

2. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Việc công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh là cơ sở để xác định tư cách của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được thực hiện theo Điều 9 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 9. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh

1. Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận lại đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh trên cơ sở đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư định kỳ 05 năm.

2. Tổ chức thực hiện công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh thực hiện theo các quy định sau:

a) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an rà soát các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 3 Nghị định này để xây dựng Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh đối với các doanh nghiệp đề nghị công nhận là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh lần đầu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực và đối với các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh cần thực hiện công nhận lại trong thời gian 06 tháng trước kỳ phải công nhận lại; gửi 05 bộ Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 11 Nghị định này đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thẩm định.

b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, lấy ý kiến Bộ Tài chính kể từ ngày nhận đủ Hồ sơ. Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành có ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

c) Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến thẩm định đối với Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh để gửi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các cơ quan liên quan. Trường hợp có ý kiến khác nhau về Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức họp với các cơ quan liên quan để thống nhất các nội dung thẩm định;

d) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoàn thiện Hồ sơ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

3. Doanh nghiệp thành lập mới đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 3 Nghị định này là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và không phải thực hiện công nhận doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh theo quy định tại khoản 2 Điều này. Văn bản phê duyệt chủ trương hoặc quyết định thành lập mới doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ có giá trị thay thế quyết định công nhận doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

4. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa ra khỏi danh sách doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh sau khi lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với doanh nghiệp đã được công nhận là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh nhưng không được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp tục giao nhiệm vụ, đặt hàng sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh.

5. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp không được công nhận, công nhận lại là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh phải thực hiện sắp xếp, tổ chức lại theo các quy định của pháp luật."

Dẫn chiếu đến Điều 3 và Điều 11 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 3. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh

Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:

1. Là một trong các loại hình doanh nghiệp sau:

a) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

b) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nắm giữ 100% vốn điều lệ.

c) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu 100% vốn điều lệ của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong đó có ít nhất một doanh nghiệp là doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

2. Có ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh kèm theo Nghị định này.

3. Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng nguồn lực từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp."

Và

"Điều 11. Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh

Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh gồm những nội dung sau:

1. Tên doanh nghiệp; ngành, lĩnh vực, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp; các sản phẩm, dịch vụ và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao doanh nghiệp thực hiện trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị xét duyệt.

2. Báo cáo thực trạng hoạt động của doanh nghiệp trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị xét duyệt; cung cấp số liệu về vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế, nộp ngân sách, tổng số nợ phải trả, tổng số lao động..., thông tin về diện tích đất được giao quản lý, sử dụng.

3. Báo cáo về tình hình sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ, đặt hàng trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị xét duyệt.

4. Mục tiêu, kế hoạch phát triển của doanh nghiệp trong 05 năm tiếp theo kể từ thời điểm đề nghị xét duyệt.

5. Những nội dung khác liên quan đến việc công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh (nếu có); các tài liệu, văn bản liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoặc các cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng doanh nghiệp thực hiện."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận lại đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh trên cơ sở đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư định kỳ 05 năm. Việc giao Thủ tướng Chính phủ quyết định vấn đề này thể hiện tính chất quan trọng của việc xác lập tư cách doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Đồng thời, sự phối hợp rà soát, thẩm định và đánh giá của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ bảo đảm việc công nhận, công nhận lại đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được xem xét một cách toàn diện. Thêm vào đó, chu kỳ 05 năm tạo cơ sở để rà soát định kỳ mức độ đáp ứng điều kiện của doanh nghiệp, bảo đảm tư cách của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong từng giai đoạn.

Để thực hiện công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, cần thực hiện theo quy trình sau:

- Trước tiên, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an rà soát các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 3 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP để xây dựng Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh đối với các doanh nghiệp đề nghị công nhận là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh lần đầu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định số 16/2023/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 25/04/2023) và đối với các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh cần thực hiện công nhận lại trong thời gian 06 tháng trước kỳ phải công nhận lại. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an gửi 05 bộ Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 11 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thẩm định. Cơ chế này giúp việc xem xét tư cách doanh nghiệp được bắt đầu từ cơ quan nắm rõ tình hình hoạt động và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp, tức là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Việc xác định thời hạn và số lượng hồ sơ cụ thể còn tạo cơ sở để các cơ quan chủ động chuẩn bị, phối hợp xử lý và hạn chế tình trạng chậm trễ trong quá trình công nhận, công nhận lại;

- Tiếp theo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, lấy ý kiến Bộ Tài chính kể từ ngày nhận đủ Hồ sơ. Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành có ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Việc lấy ý kiến của các Bộ, ngành liên quan giúp hồ sơ được xem xét trên các phương diện thuộc phạm vi quản lý của từng cơ quan, giúp bổ sung căn cứ cho quá trình thẩm định. Đồng thời, thời hạn phản hồi cụ thể góp phần nâng cao tính chủ động và trách nhiệm phối hợp giữa các Bộ, cơ quan, hỗ trợ quá trình xử lý hồ sơ diễn ra có trật tự và đúng tiến độ;

- Sau đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến thẩm định đối với Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh để gửi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các cơ quan liên quan. Trường hợp có ý kiến khác nhau về Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức họp với các cơ quan liên quan để thống nhất các nội dung thẩm định. Quy trình kiểm tra, thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư độc lập với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, giúp việc đánh giá hồ sơ trở nên khách quan và minh bạch. Việc tổ chức họp khi có ý kiến khác nhau còn tạo điều kiện để trao đổi, làm rõ những vấn đề còn chưa thống nhất, hạn chế việc chuyển hồ sơ sang bước tiếp theo trong khi các nội dung còn thiếu căn cứ hoặc chưa được xem xét đầy đủ;

- Cuối cùng, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoàn thiện Hồ sơ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Bước này xác định trách nhiệm của cơ quan đề nghị trong việc xử lý các vấn đề được nêu tại khâu thẩm định, bảo đảm hồ sơ trình cấp có thẩm quyền có đầy đủ nội dung cần thiết. Qua đó, trình tự công nhận được thực hiện theo cơ chế phối hợp giữa cơ quan đề xuất, cơ quan thẩm định và chủ thể ra quyết định, góp phần nâng cao tính chặt chẽ và minh bạch trong quá trình xem xét.

Đặc biệt, trường hợp doanh nghiệp thành lập mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện để xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp đó được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và không phải thực hiện công nhận doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh theo quy trình đã nêu trên. Văn bản phê duyệt chủ trương hoặc quyết định thành lập mới doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ có giá trị thay thế quyết định công nhận doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Điều này sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục đối với doanh nghiệp được thành lập mới. Nhờ vậy, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí để có thể thực hiện ngay các nhiệm vụ an ninh, quốc phòng được giao.

Đáng chú ý, đối với doanh nghiệp đã được công nhận là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh nhưng không còn được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ, đặt hàng sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh thì Bộ Quốc phòng, Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa ra khỏi danh sách doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh sau khi lấy ý kiến của Bộ Tài chính về vấn đề này. Đây là cách thức rà soát tư cách doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh dựa trên tình hình nhiệm vụ thực tế, tránh việc duy trì danh sách những doanh nghiệp không còn đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ được giao. Qua đó, việc quản lý và áp dụng chính sách đối với nhóm doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được gắn với nhu cầu thực tế, góp phần hạn chế lãng phí nguồn lực và bảo đảm các chính sách ưu đãi của Nhà nước được áp dụng phù hợp với mục tiêu phục vụ quốc phòng, an ninh.

Về việc sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp không được công nhận, công nhận lại, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp không được công nhận, công nhận lại là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh phải thực hiện sắp xếp, tổ chức lại theo luật định. Việc yêu cầu sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp giúp cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp được xem xét, điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp sau khi không được công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Nhìn chung, pháp luật đã thiết lập một cơ chế pháp lý tương đối chặt chẽ đối với việc công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Cơ chế này không chỉ bảo đảm việc xem xét, đánh giá doanh nghiệp được thực hiện theo trình tự thống nhất và dưới sự giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà còn tạo cơ sở để kịp thời điều chỉnh địa vị pháp lý của doanh nghiệp khi điều kiện hoặc yêu cầu thực tiễn thay đổi. Qua đó, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quản lý theo hướng minh bạch, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và đáp ứng hiệu quả mục tiêu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong từng giai đoạn phát triển.

Trân trọng./.