Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và được biết có những doanh nghiệp vừa thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc công nhận và công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được hiểu như thế nào?

2. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được hiểu như thế nào?

Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là mô hình kết hợp giữa khai thác nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế với việc thực hiện các nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh. Pháp luật ghi nhận nội dung về doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Điều 4 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/04/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 16/2023/NĐ-CP"), cụ thể như sau:

"Điều 4. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh

Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:

1. Là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.

2. Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất; thực hiện các dự án đầu tư có liên quan đến bí mật quốc phòng, nhiệm vụ quan trọng của quốc phòng, dự án đầu tư trên các địa bàn có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh."

Theo đó, doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Việc Nhà nước nắm giữ trên 50% và dưới 100% vốn điều lệ cho phép doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc lựa chọn loại hình. Nhờ vậy, doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có điều kiện huy động nguồn lực kinh tế ngoài nhà nước nhưng vẫn bảo đảm Nhà nước nắm quyền chi phối trong hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ hai, doanh nghiệp được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất, đồng thời, thực hiện các dự án đầu tư có liên quan đến bí mật quốc phòng, nhiệm vụ quan trọng của quốc phòng, dự án đầu tư trên các địa bàn có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Điều kiện này thể hiện đặc trưng của mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh: Doanh nghiệp vừa tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa tham gia thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, việc xác định rõ chủ thể giao nhiệm vụ và phạm vi công việc giúp bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp gắn với nhu cầu thực tế, đồng thời tạo căn cứ để kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt đối với các dự án liên quan đến bí mật quốc phòng hoặc địa bàn có vị trí chiến lược.

Như vậy, việc đặt ra đồng thời điều kiện về cơ cấu sở hữu vốn nhà nước và nhiệm vụ được giao thể hiện yêu cầu kiểm soát nhất định đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Trong đó, tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và vai trò đại diện chủ sở hữu của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tạo cơ sở để Nhà nước duy trì quyền chi phối, định hướng hoạt động của doanh nghiệp. Còn nhiệm vụ được giao xác lập mối liên hệ cụ thể giữa hoạt động của doanh nghiệp với yêu cầu quốc phòng, an ninh. Sự kết hợp này cho phép doanh nghiệp tiếp tục khai thác nguồn lực, năng lực sản xuất và hoạt động kinh doanh, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

2. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh vừa thực hiện sản xuất kinh doanh, vừa tham gia vào các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao và được hưởng các ưu đãi đặc biệt từ Nhà nước. Vì vậy, việc công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được pháp luật quy định khá chặt chẽ. Nội dung này được ghi nhận cụ thể tại Điều 10 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP như sau:

"Điều 10. Công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh

1. Bộ trưởng: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định công nhận, công nhận lại đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư định kỳ 05 năm.

2. Tổ chức thực hiện công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh theo các quy định sau:

a) Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và 06 tháng trước kỳ phải công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần biểu quyết do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu xây dựng Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; gửi 03 bộ Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 11 Nghị định này đến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để đề nghị công nhận là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.

b) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ trì, lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính kể từ ngày nhận đủ Hồ sơ. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

c) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xem xét, quyết định công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.

3. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định đưa ra khỏi danh sách doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đối với doanh nghiệp đã được công nhận là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh nhưng không đáp ứng đồng thời các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định này."

Dẫn chiếu đến Điều 11 và Điều 4 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 11. Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh

Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh gồm những nội dung sau:

1. Tên doanh nghiệp; ngành, lĩnh vực, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp; các sản phẩm, dịch vụ và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao doanh nghiệp thực hiện trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị xét duyệt.

2. Báo cáo thực trạng hoạt động của doanh nghiệp trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị xét duyệt; cung cấp số liệu về vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế, nộp ngân sách, tổng số nợ phải trả, tổng số lao động..., thông tin về diện tích đất được giao quản lý, sử dụng.

3. Báo cáo về tình hình sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ, đặt hàng trong 05 năm gần nhất tính đến thời điểm đề nghị xét duyệt.

4. Mục tiêu, kế hoạch phát triển của doanh nghiệp trong 05 năm tiếp theo kể từ thời điểm đề nghị xét duyệt.

5. Những nội dung khác liên quan đến việc công nhận, công nhận lại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh (nếu có); các tài liệu, văn bản liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoặc các cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng doanh nghiệp thực hiện."

Và

"Điều 4. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh

Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:

1. Là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.

2. Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất; thực hiện các dự án đầu tư có liên quan đến bí mật quốc phòng, nhiệm vụ quan trọng của quốc phòng, dự án đầu tư trên các địa bàn có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định công nhận, công nhận lại đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư định kỳ 05 năm. Khác với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh do Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận lại, thẩm quyền quyết định công nhận, công nhận lại đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc về Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an. Việc trao thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm tải khối lượng công việc cho Chính phủ. Ngoài ra, thời hạn công nhận, công nhận lại 05 năm buộc doanh nghiệp phải liên tục rà soát, xem xét mức độ đáp ứng các điều kiện xác định doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.

Về trình tự, việc công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được thực hiện như sau:

- Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định số 16/2023/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 25/04/2023) và 06 tháng trước kỳ phải công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần biểu quyết do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu xây dựng Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Doanh nghiệp này sẽ gửi 03 bộ Hồ sơ đề nghị công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 11 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP đến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để đề nghị công nhận là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh;

- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ trì, lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính kể từ ngày nhận đủ Hồ sơ. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;

- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xem xét, quyết định công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.

Có thể thấy, trình tự công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đề cao tính chủ động và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tự rà soát điều kiện, chuẩn bị hồ sơ và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét tư cách pháp lý của mình. Đồng thời, việc xác định rõ thời hạn 15 ngày làm việc để Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho ý kiến góp phần nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, hạn chế tình trạng kéo dài thủ tục, gây ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh và việc thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp đề nghị công nhận, công nhận lại.

Đáng chú ý, đối với doanh nghiệp đã được công nhận là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh nhưng không đáp ứng đồng thời các điều kiện để xác định doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Điều 4 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định đưa ra khỏi danh sách doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy tư cách của doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải được duy trì trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định. Việc đưa những doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện ra khỏi danh sách góp phần tránh lãng phí nguồn lực quản lý và các chính sách ưu đãi của Nhà nước dành cho doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Như vậy, các nguồn lực và chính sách hỗ trợ được sử dụng phù hợp hơn, gắn với yêu cầu thực tế của hoạt động kết hợp kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Tóm lại, cơ chế công nhận, công nhận lại doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thể hiện yêu cầu quản lý gắn với điều kiện hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Cơ chế này vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động thực hiện các thủ tục cần thiết, vừa hỗ trợ Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và áp dụng chính sách đối với những doanh nghiệp này. Qua đó, nguồn lực và chính sách ưu đãi của Nhà nước được sử dụng đúng đối tượng, đồng thời góp phần bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Trân trọng./.