Công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là Giám đốc một doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Trong quá trình điều hành, tôi cần xác định các loại thông tin doanh nghiệp phải công bố định kỳ, thời hạn thực hiện và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin được công bố. Vậy công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Hình thức và phương tiện công bố thông tin được quy định như thế nào?
2. Công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Hình thức và phương tiện công bố thông tin được quy định như thế nào?
Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc công bố thông tin, việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm yêu cầu về hình thức và phương tiện công bố. Nội dung về hình thức và phương tiện công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được ghi nhận cụ thể tại Điều 21 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP") như sau:
"Điều 21. Hình thức và phương tiện công bố thông tin.
1. Hình thức công bố thông tin gồm văn bản và dữ liệu điện tử.
2. Các phương tiện báo cáo, công bố thông tin bao gồm:
a) Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.
b) Cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
c) Cổng thông tin doanh nghiệp.
3. Trường hợp thời điểm thực hiện công bố thông tin trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định pháp luật, doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc.
4. Việc công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng khác do cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định."
Theo đó, hình thức công bố thông tin gồm văn bản và dữ liệu điện tử. Việc cho phép công bố thông tin theo hình thức văn bản và dữ liệu điện tử cho thấy pháp luật đã thừa nhận giá trị pháp lý của thông tin được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử. Điều này thể hiện nỗ lực của Nhà nước trong việc chuyển đổi số, đáp ứng tốt hơn quá trình phát triển của thị trường và công nghệ. Hơn nữa, việc sử dụng dữ liệu điện tử giúp truyền tải, tổng hợp và đồng bộ hóa báo cáo được nhanh chóng, giảm chi phí in ấn và lưu chuyển văn bản.
Báo cáo, công bố thông tin thực hiện thông qua các phương tiện sau:
- Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp;
- Cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu;
- Cổng thông tin doanh nghiệp.
Việc công bố thông tin qua các kênh này giúp thông tin được tiếp cận từ nhiều nguồn, tạo điều kiện cho cơ quan đại diện chủ sở hữu theo dõi hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu thông tin. Qua đó, góp phần tăng cường tính công khai và minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài ra, trong trường hợp thời điểm thực hiện công bố thông tin trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ theo luật định, doanh nghiệp sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc. Ngày nghỉ, ngày lễ là thời gian nghỉ làm việc theo chế độ lao động, trong khi việc công bố thông tin đòi hỏi sự tham gia của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin cùng các bộ phận chuyên môn. Việc chuyển nghĩa vụ này sang ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện vận hành bình thường để bảo đảm việc công bố thông tin được thực hiện theo đúng yêu cầu, tránh rủi ro, sai sót dữ liệu.
Bên cạnh đó, việc công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng khác do cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định. Cách tiếp cận này cho phép cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định việc sử dụng thêm các phương tiện truyền thông phù hợp với yêu cầu quản lý và đặc điểm của doanh nghiệp. Qua đó, phạm vi tiếp cận thông tin có thể được mở rộng khi cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả công khai thông tin và giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Nhìn chung, pháp luật xác định các hình thức, phương tiện và thời điểm thực hiện công bố thông tin, đồng thời phân định vai trò của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc quyết định sử dụng thêm các phương tiện thông tin đại chúng. Những nội dung này tạo cơ sở để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin thống nhất, thuận tiện cho việc tiếp cận và tra cứu, qua đó góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý và giám sát doanh nghiệp nhà nước.
2. Công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Nhằm bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, pháp luật yêu cầu doanh nghiệp định kỳ phải công bố thông tin. Nội dung về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được ghi nhận tại Điều 109 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự năm 2022 và được hướng dẫn tại Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 13 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/04/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, cụ thể như sau:
"Điều 109. Công bố thông tin định kỳ
1. Công ty phải công bố định kỳ trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu những thông tin sau đây:
a) Thông tin cơ bản về công ty và Điều lệ công ty;
b) Mục tiêu tổng quát; mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm;
c) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập trong thời hạn 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính; bao gồm cả báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có);
d) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm, bao gồm cả báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có); việc công bố phải thực hiện trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
đ) Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm;
e) Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích được giao theo kế hoạch hoặc đấu thầu (nếu có) và trách nhiệm xã hội khác;
g) Báo cáo về thực trạng quản trị, cơ cấu tổ chức công ty.
2. Báo cáo thực trạng quản trị công ty bao gồm các thông tin sau đây:
a) Thông tin về cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu;
b) Thông tin về người quản lý công ty, bao gồm trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, các vị trí quản lý đã nắm giữ, cách thức được bổ nhiệm, công việc quản lý được giao; mức và cách thức chi trả tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác; người có liên quan và lợi ích có liên quan của người quản lý công ty;
c) Quyết định có liên quan của cơ quan đại diện chủ sở hữu; các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
d) Thông tin về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên và hoạt động của họ;
đ) Báo cáo kết luận của cơ quan thanh tra (nếu có) và báo cáo của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;
e) Thông tin về người có liên quan của công ty, hợp đồng, giao dịch của công ty với người có liên quan;
g) Thông tin khác theo quy định của Điều lệ công ty.
3. Thông tin được công bố phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.
4. Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện công bố thông tin. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Và
"Điều 23. Các thông tin công bố định kỳ.
1. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải định kỳ công bố các thông tin sau đây:
a) Thông tin cơ bản về doanh nghiệp và Điều lệ công ty;
b) Mục tiêu tổng quát, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt theo nội dung quy định tại Biểu số 2 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 3 của năm thực hiện;
c) Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm theo nội dung quy định tại Biểu số 3 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
d) Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích được giao theo kế hoạch hoặc đấu thầu (nếu có) và trách nhiệm xã hội khác theo nội dung quy định tại Biểu số 4 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
đ) Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức 06 tháng của doanh nghiệp theo nội dung quy định tại Biểu số 5 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
e) Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức hằng năm của doanh nghiệp theo nội dung quy định tại Biểu số 6 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
g) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có); việc công bố phải thực hiện trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
h) Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có) theo quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp; thời hạn công bố trong vòng 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Theo đó, doanh nghiệp nhà nước phải công bố định kỳ trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu những thông tin sau đây:
- Thông tin cơ bản về công ty và Điều lệ công ty: Đây có thể xem là thông tin định danh và nền tảng của doanh nghiệp, giúp cơ quan quản lý, đối tác và công chúng nắm bắt thông tin về doanh nghiệp;
- Mục tiêu tổng quát; mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm: Thông tin này cho phép cơ quan đại diện chủ sở hữu và các chủ thể quan tâm có thể theo dõi định hướng hoạt động của doanh nghiệp, tạo cơ sở để đối chiếu giữa kế hoạch đã đề ra với kết quả thực hiện vào cuối kỳ;
- Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập trong thời hạn 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính; bao gồm cả báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có): Việc bắt buộc có sự xác nhận của kiểm toán độc lập giúp bảo đảm tính trung thực và chính xác của dữ liệu được công bố, ngăn ngừa tình trạng che giấu thua lỗ. Đồng thời, thời hạn 150 ngày bảo đảm sự cân bằng giữa thời gian kiểm toán các báo cáo với nguyên tắc kịp thời trong hoạt động công bố thông tin;
- Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm, bao gồm cả báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có); việc công bố phải thực hiện trước ngày 31 tháng 7 hằng năm: Việc công bố báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm sẽ tăng tần suất doanh nghiệp được giám sát tài chính lên 02 lần mỗi năm, tạo điều kiện để cơ quan đại diện chủ sở hữu phát hiện sớm các nguy cơ mất an toàn tài chính hoặc biến động kinh doanh bất thường;
- Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm: Đây có thể xem là báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện các mục tiêu tổng quát và mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm, tạo thành hệ thống báo cáo khép kín. Cơ quan quản lý, đối tác và công chúng thông qua các báo cáo này có thể đánh giá năng lực của doanh nghiệp, phát hiện những điểm vượt trội hoặc sai sót, yếu kém trong quản lý;
- Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích được giao theo kế hoạch hoặc đấu thầu (nếu có) và trách nhiệm xã hội khác: Nội dung này phản ánh khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp gắn với việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích và thực hiện những nghĩa vụ xã hội có liên quan, giúp đánh giá công bằng tổng thể doanh nghiệp về mặt lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội;
- Báo cáo về thực trạng quản trị, cơ cấu tổ chức công ty bao gồm các thông tin sau đây:
+ Thông tin về cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu;
+ Thông tin về người quản lý công ty, bao gồm trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, các vị trí quản lý đã nắm giữ, cách thức được bổ nhiệm, công việc quản lý được giao; mức và cách thức chi trả tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác; người có liên quan và lợi ích có liên quan của người quản lý công ty;
+ Quyết định có liên quan của cơ quan đại diện chủ sở hữu; các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
+ Thông tin về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên và hoạt động của họ;
+ Báo cáo kết luận của cơ quan thanh tra (nếu có) và báo cáo của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;
+ Thông tin về người có liên quan của công ty, hợp đồng, giao dịch của công ty với người có liên quan;
+ Thông tin khác theo quy định của Điều lệ công ty.
Đây là nhóm thông tin quan trọng để đánh giá việc phân công chức năng, thực hiện nhiệm vụ quản lý và tổ chức giám sát trong doanh nghiệp. Việc xác định cụ thể các nhóm thông tin này giúp chuẩn hóa phạm vi báo cáo, đồng thời tạo điều kiện để đánh giá cơ cấu quản trị, cơ chế ra quyết định và khả năng kiểm soát xung đột lợi ích tại doanh nghiệp.
Đặc biệt, thông tin được công bố phải đáp ứng được nguyên tắc hàng đầu của hoạt động công bố thông tin là đầy đủ, chính xác và kịp thời theo luật định. Việc đặt ra đồng thời ba yêu cầu này nhằm hạn chế tình trạng công bố thiếu nội dung, sai lệch hoặc chậm trễ, bởi những khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng đến chất lượng giám sát và khả năng đánh giá tình hình doanh nghiệp. Qua đó, việc tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin được kiểm tra, xem xét, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nội dung đã công khai.
Về chủ thể công bố thông tin, người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện công bố thông tin. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố. Trách nhiệm này đặt ra yêu cầu đối với người thực hiện trong việc kiểm tra, bảo đảm chất lượng thông tin trước khi công bố, hạn chế tình trạng cung cấp thông tin thiếu sót, sai lệch hoặc không phản ánh đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó, góp phần nâng cao trách nhiệm của cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ và củng cố mức độ tin cậy của thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát.
Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP đã cụ thể hóa một số nội dung về công bố thông tin định kỳ tại Điều 109 Luật Doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải định kỳ công bố các thông tin sau:
- Thông tin cơ bản về doanh nghiệp và Điều lệ công ty;
- Mục tiêu tổng quát, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt theo nội dung Báo cáo mục tiêu tổng quát, kế hoạch kinh doanh năm tại Biểu số 2 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 3 của năm thực hiện;
- Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm theo nội dung Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tại Biểu số 3 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
- Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích được giao theo kế hoạch hoặc đấu thầu (nếu có) và trách nhiệm xã hội khác theo nội dung Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội (nếu có) năm tại Biểu số 4 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
- Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức 06 tháng của doanh nghiệp theo nội dung Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp 06 tháng/năm tại Biểu số 5 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
- Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức hằng năm của doanh nghiệp theo nội dung Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp năm tại Biểu số 6 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
- Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có). Việc công bố phải thực hiện trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
- Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có) theo quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp; thời hạn công bố trong vòng 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Việc xác định cụ thể các nhóm thông tin mà doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải công bố, kèm theo biểu mẫu và thời hạn tương ứng, tạo cơ sở để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ công khai một cách thống nhất và có hệ thống. Qua đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu và các chủ thể quan tâm có thể theo dõi tương đối toàn diện tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, việc thực hiện nhiệm vụ công ích, tình hình quản trị và tài chính của doanh nghiệp. Cơ chế này góp phần tăng cường tính minh bạch, hỗ trợ giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước.
Thứ hai, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết thực hiện công bố những thông tin sau:
- Thông tin cơ bản về doanh nghiệp và Điều lệ công ty;
- Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm theo nội dung Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tại Biểu số 3 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
- Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức 06 tháng của doanh nghiệp theo nội dung Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp 06 tháng/năm tại Biểu số 5 Phụ lục II kèm theo Nghị định này. Thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 7 hằng năm;
- Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức hằng năm của doanh nghiệp theo nội dung Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp năm tại Biểu số 6 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Thời hạn công bố trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện;
- Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có) theo quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp; thời hạn công bố trong vòng 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
So với những nội dung công bố thông tin của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, những thông tin do doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết thực hiện công bố có số lượng hạn chế hơn. Sự khác biệt về nghĩa vụ công bố thông tin giữa doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và trên 50% vốn điều lệ xuất phát từ sự khác biệt bản chất về cấu trúc sở hữu và chức năng hoạt động.
Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, do tài sản thường thuộc sở hữu công, Nhà nước đặt ra cơ chế kiểm soát tối đa, bắt buộc công khai đầy đủ kế hoạch kinh doanh đầu kỳ, báo cáo công ích và báo cáo tài chính bán niên kiểm toán. Ngược lại, việc thu hẹp nghĩa vụ đối với khối doanh nghiệp trên 50% vốn nhà nước nhằm tôn trọng những thành viên hoặc cổ đông khác của doanh nghiệp, bảo vệ bí mật kinh doanh và lợi thế cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời, điều này giúp doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết có thể tiết kiệm chi phí chi hoạt động công bố thông tin nhưng vẫn giữ tính minh bạch thông qua báo cáo tài chính năm đã kiểm toán và báo cáo thực trạng quản trị.
Tóm lại, pháp luật về doanh nghiệp đã thiết lập cơ chế công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp nhà nước nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, từ tình hình tài chính, kết quả sản xuất, kinh doanh đến công tác quản trị và cơ cấu tổ chức. Việc xác định cụ thể phạm vi thông tin, thời hạn và biểu mẫu báo cáo tạo cơ sở để cơ quan đại diện chủ sở hữu và các chủ thể có thẩm quyền theo dõi, đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt, thông qua việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời, cơ chế này góp phần phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước, qua đó, nâng cao trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, hạn chế nguy cơ thất thoát, lãng phí và bảo vệ giá trị phần vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
Trân trọng./.