Trách nhiệm các tổ chức liên quan và xử lý vi phạm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Trách nhiệm các tổ chức liên quan và xử lý vi phạm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là người quản lý tại một doanh nghiệp nhà nước và đang tìm hiểu các nghĩa vụ liên quan đến việc công bố, cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý và giám sát doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện, tôi muốn làm rõ trách nhiệm của các tổ chức liên quan và việc xử lý vi phạm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước?

2. Trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

3. Pháp luật quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm như thế nào về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước?

4. Xử lý vi phạm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước?

Để bảo đảm tính đầy đủ, chính xác và kịp thời trong hoạt động công bố thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước, pháp luật đặt ra những trách nhiệm của doanh nghiệp tại Điều 30 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP") được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 15 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, cụ thể như sau:

"Điều 30. Trách nhiệm của doanh nghiệp.

1. Xây dựng Quy chế công bố thông tin của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định này bao gồm các nội dung về thẩm quyền, trách nhiệm, phân công nhiệm vụ của các cá nhân, bộ phận liên quan.

2. Lập trang thông tin điện tử trong vòng 03 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực. Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp phải hiển thị thời gian đăng tải thông tin và các thông tin cơ bản về doanh nghiệp; các báo cáo, thông tin công bố định kỳ, bất thường theo quy định tại Nghị định này.

3. Hoàn thành kê khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin cập nhật tại các mẫu biểu điện tử trên Cổng thông tin doanh nghiệp khi đăng tải báo cáo công bố thông tin.

4. Tuân thủ quy định và yêu cầu kiểm tra, giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu và các cơ quan có liên quan theo quy định của pháp luật."

Trước hết, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng Quy chế công bố thông tin của doanh nghiệp theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP bao gồm các nội dung về thẩm quyền, trách nhiệm, phân công nhiệm vụ của các cá nhân, bộ phận liên quan. Qua việc thực hiện trách nhiệm này, doanh nghiệp cụ thể hóa các quy định chung của pháp luật thành quy trình vận hành cụ thể tại doanh nghiệp. Đồng thời, việc xác định rõ quyền, trách nhiệm, nhiệm vụ của các cá nhân, bộ phận liên quan sẽ tránh tình trạng không rõ ràng về trách nhiệm hoặc chậm trễ báo cáo do thiếu quy trình phối hợp nội bộ giữa các bộ phận chuyên môn.

Tiếp theo, doanh nghiệp phải lập trang thông tin điện tử trong vòng 03 tháng kể từ ngày Nghị định số 47/2021/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 01/04/2021). Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp phải hiển thị thời gian đăng tải thông tin và các thông tin cơ bản về doanh nghiệp, cũng như các báo cáo, thông tin công bố định kỳ, bất thường theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Việc lập trang thông tin điện tử tạo ra kênh cung cấp thông tin chính thức của doanh nghiệp, giúp các cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư và những chủ thể quan tâm tiếp cận thông tin về doanh nghiệp thuận lợi hơn. Yêu cầu hiển thị thời gian đăng tải còn hỗ trợ xác định thời điểm thông tin được công bố, tạo điều kiện theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước.

Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước phải hoàn thành kê khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin cập nhật tại các mẫu biểu điện tử trên Cổng thông tin doanh nghiệp khi đăng tải báo cáo công bố thông tin. Điều này sẽ góp phần hạn chế tình trạng cung cấp thông tin sai lệch hoặc thiếu nhất quán giữa các báo cáo. Dữ liệu được cập nhật đầy đủ và đáng tin cậy cũng tạo điều kiện cho cơ quan quản lý theo dõi, đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ quá trình tổng hợp và khai thác thông tin trên hệ thống dữ liệu chung.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp có trách nhiệm tuân thủ quy định và yêu cầu kiểm tra, giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu và các cơ quan có liên quan theo luật định. Thông qua trách nhiệm tuân thủ này, cơ quan đại diện chủ sở hữu và các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin, kịp thời phát hiện những thiếu sót hoặc vi phạm để xem xét xử lý. Qua đó, cơ chế giám sát góp phần tăng cường kỷ luật trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, đồng thời thúc đẩy việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách nghiêm túc và có trách nhiệm.

Nhìn chung, pháp luật đã xác lập rõ ràng các trách nhiệm cơ bản của doanh nghiệp nhà nước trong tổ chức thực hiện, cung cấp và bảo đảm độ tin cậy của thông tin công bố. Sự kết hợp giữa cơ chế phân công nội bộ, yêu cầu thiết lập kênh thông tin, trách nhiệm kê khai chính xác và hoạt động kiểm tra, giám sát tạo nền tảng để nâng cao tính minh bạch, tăng cường khả năng kiểm soát và hỗ trợ công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

2. Trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đúng các yêu cầu về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải thực hiện những trách nhiệm tại Điều 31 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 31. Trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

1. Xây dựng chuyên mục riêng về công bố thông tin của doanh nghiệp trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan; bảo đảm kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn hợp pháp khác để nâng cấp, duy trì, vận hành cổng hoặc trang thông tin điện tử để thực hiện công bố thông tin doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này.

2. Phê duyệt nội dung Báo cáo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị định này trước ngày 20 tháng 3 hằng năm và thực hiện đăng tải báo cáo công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan.

3. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Nghị định này."

Dẫn chiếu đến điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 23. Các thông tin công bố định kỳ.

1. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải định kỳ công bố các thông tin sau đây:

…

b) Mục tiêu tổng quát, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt theo nội dung quy định tại Biểu số 2 Phụ lục II kèm theo Nghị định này; thời hạn công bố trước ngày 31 tháng 3 của năm thực hiện;

…"

Theo đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm xây dựng chuyên mục riêng về công bố thông tin của doanh nghiệp trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan. Đồng thời, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải bảo đảm kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn hợp pháp khác để nâng cấp, duy trì, vận hành cổng hoặc trang thông tin điện tử để thực hiện công bố thông tin doanh nghiệp theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Chuyên mục riêng về công bố thông tin của doanh nghiệp sẽ là kênh tiếp cận thông tin tập trung, giúp các tổ chức, cá nhân quan tâm thuận tiện tra cứu thông tin về doanh nghiệp nhà nước. Mặt khác, yêu cầu bảo đảm kinh phí tạo điều kiện duy trì hạ tầng kỹ thuật và khả năng cung cấp thông tin thường xuyên, hạn chế tình trạng gián đoạn trong hoạt động công bố thông tin do thiếu hụt nguồn lực.

Bên cạnh đó, pháp luật yêu cầu cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt nội dung Báo cáo về mục tiêu tổng quát, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch kinh doanh hằng năm trước ngày 20/03 hằng năm và thực hiện đăng tải báo cáo công bố thông tin định kỳ của doanh nghiệp trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan. Thời điểm cơ quan đại diện chủ sở hữu phải phê duyệt nội dung báo cáo như trên là phù hợp, bởi lẽ, doanh nghiệp có nghĩa vụ công bố kế hoạch kinh doanh trước ngày 31/03 nên khoảng thời gian hơn 10 ngày kể từ ngày cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt báo cáo sẽ giúp doanh nghiệp có thể hoàn thiện hồ sơ và đăng tải báo cáo đúng hạn.

Ngoài ra, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Hoạt động kiểm tra, giám sát tạo cơ sở để cơ quan đại diện chủ sở hữu phát hiện những thiếu sót trong quá trình công bố thông tin, chẳng hạn như chậm đăng tải hoặc chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo yêu cầu. Việc theo dõi thường xuyên cũng góp phần nâng cao ý thức tuân thủ của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ cơ quan đại diện chủ sở hữu kịp thời yêu cầu khắc phục hoặc xử lý vấn đề phát sinh theo thẩm quyền và quy định pháp luật.

Tóm lại, pháp luật xác định rõ trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc bảo đảm các điều kiện cần thiết để hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thường xuyên và đúng yêu cầu. Thông qua việc tổ chức hệ thống thông tin, kiểm soát quá trình phê duyệt, đăng tải báo cáo và giám sát việc tuân thủ, cơ quan đại diện chủ sở hữu góp phần nâng cao chất lượng thông tin được công khai, tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước và bảo đảm tính minh bạch trong quá trình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

3. Pháp luật quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm như thế nào về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước?

Với vai trò là cơ quan vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính có những trách nhiệm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước tại Điều 32 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP như sau:

"Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

1. Bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin, các thiết bị có liên quan để quản lý, duy trì, vận hành Cổng thông tin doanh nghiệp liên tục, ổn định, đảm bảo an toàn và dễ tiếp cận đối với các thông tin do doanh nghiệp công bố.

2. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn thực hiện công bố thông tin, quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước.

3. Tổng hợp tình hình thực hiện công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước, rà soát, công khai danh sách các doanh nghiệp không thực hiện công bố thông tin trên Cổng thông tin doanh nghiệp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho cơ quan đại diện chủ sở hữu để các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định.

4. Xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước trên Cổng thông tin doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu truy cập, sử dụng có hiệu quả thông tin, phục vụ lợi ích xã hội.

5. Chủ trì tích hợp, chia sẻ, kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước với cơ sở dữ liệu doanh nghiệp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức khác để khai thác, sử dụng, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.

6. Định kỳ rà soát, đề xuất phương án nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của Cổng thông tin doanh nghiệp. Lập dự toán kinh phí thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất nhằm bảo đảm kinh phí cho việc vận hành, nâng cấp Cổng thông tin doanh nghiệp."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Bộ Tài chính được Nhà nước giao các nhiệm vụ liên quan đến bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, hướng dẫn thực hiện, quản lý cơ sở dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, trách nhiệm cụ thể như sau:

Thứ nhất, Bộ Tài chính bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin, các thiết bị có liên quan để quản lý, duy trì, vận hành Cổng thông tin doanh nghiệp liên tục, ổn định, đảm bảo an toàn và dễ tiếp cận đối với các thông tin do doanh nghiệp công bố. Hạ tầng kỹ thuật ổn định là điều kiện cần thiết để thông tin của doanh nghiệp nhà nước được đăng tải và cập nhật thường xuyên, hạn chế việc gián đoạn hoặc khó khăn trong quá trình khai thác dữ liệu. Đồng thời, yêu cầu về an toàn thông tin góp phần bảo vệ hệ thống trước các rủi ro kỹ thuật, trong khi khả năng tiếp cận thuận tiện giúp các cơ quan quản lý và những chủ thể quan tâm dễ dàng tìm kiếm thông tin. Qua đó, chất lượng cung cấp thông tin và hiệu quả vận hành Cổng thông tin doanh nghiệp được nâng cao.

Thứ hai, Bộ Tài chính có trách nhiệm tổ chức tập huấn, hướng dẫn thực hiện công bố thông tin, quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước. Hoạt động tập huấn, hướng dẫn thực hiện công bố thông tin, quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước giúp doanh nghiệp và những nhân sự trực tiếp phụ trách công bố thông tin hiểu rõ quy trình thực hiện, hạn chế sai sót trong quá trình công bố và khai thác thông tin. Đồng thời, việc hướng dẫn thống nhất góp phần giảm thiểu sự khác biệt trong cách thức thực hiện giữa các đơn vị, nâng cao khả năng sử dụng hệ thống dữ liệu và hỗ trợ việc tuân thủ các yêu cầu pháp luật về công bố thông tin.

Thứ ba, Bộ Tài chính phải tổng hợp tình hình thực hiện công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước, rà soát, công khai danh sách các doanh nghiệp không thực hiện công bố thông tin trên Cổng thông tin doanh nghiệp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho cơ quan đại diện chủ sở hữu để các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định. Công khai danh sách doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin có thể tạo áp lực lớn vì ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp, qua đó, giúp doanh nghiệp nâng cao sự tự giác và tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin. Bên cạnh đó, việc báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ tạo cơ sở cho việc đánh giá, xếp loại người quản lý doanh nghiệp hoặc xem xét xử lý vi phạm. Cơ chế báo cáo và phối hợp này góp phần tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm việc xử lý vi phạm được thực hiện theo đúng thẩm quyền.

Thứ tư, Bộ Tài chính xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước trên Cổng thông tin doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu truy cập, sử dụng có hiệu quả thông tin, phục vụ lợi ích xã hội. Nhờ vậy, báo cáo đơn lẻ của doanh nghiệp nhà nước tập trung các thành hệ thống dữ liệu số của quốc gia. Cơ sở dữ liệu được quản lý và cập nhật thường xuyên sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để các chủ thể có nhu cầu tiếp cận thông tin phục vụ hoạt động nghiên cứu, giám sát và các mục đích hợp pháp khác. Qua đó, dữ liệu không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn phát huy giá trị trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội.

Thứ năm, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì tích hợp, chia sẻ, kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước với cơ sở dữ liệu doanh nghiệp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức khác để khai thác, sử dụng, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Việc kết nối hạ tầng dữ liệu giữa trung ương và địa phương này sẽ giúp hiện thực hóa mô hình Chính phủ số. Đồng thời, sự kết nối này có thể giúp Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành nắm bắt tình hình tài chính, vận hành của doanh nghiệp nhà nước để đưa ra các quyết định điều hành liên quan đến kinh tế - tài chính kịp thời.

Thứ sáu, Bộ Tài chính phải định kỳ rà soát, đề xuất phương án nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của Cổng thông tin doanh nghiệp. Lập dự toán kinh phí thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất nhằm bảo đảm kinh phí cho việc vận hành, nâng cấp Cổng thông tin doanh nghiệp. Công nghệ thông tin luôn phát triển không ngừng, vì vậy, trách nhiệm này của Bộ Tài chính bảo đảm Cổng thông tin doanh nghiệp không bị lạc hậu, gián đoạn theo thời gian. Cùng với đó, cơ chế lập dự toán kinh phí góp phần chủ động bố trí nguồn lực, hạn chế nguy cơ gián đoạn hoạt động do thiếu kinh phí và hỗ trợ quá trình cải thiện chất lượng hệ thống. Sự kết hợp giữa kế hoạch phát triển hạ tầng và bảo đảm nguồn lực tài chính tạo điều kiện duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng nhu cầu công bố và khai thác thông tin ngày càng tăng.

4. Xử lý vi phạm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào?

Mọi hành vi vi phạm về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và sự thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý có thể bị xem xét và xử lý vi phạm theo Điều 33 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 33. Xử lý vi phạm.

1. Doanh nghiệp vi phạm các quy định về công bố thông tin theo quy định tại Nghị định này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

2. Cơ quan đại diện chủ sở hữu căn cứ theo thẩm quyền đánh giá, xếp loại người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định hiện hành về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong trường hợp vi phạm các quy định sau:

a) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng thời hạn các quy định về công bố thông tin tại Nghị định này;

b) Nội dung công bố thông tin không chính xác, trung thực.

3. Cơ quan đại diện chủ sở hữu chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc:

a) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đôn đốc, giám sát, kiểm tra các nội dung về công bố thông tin của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định này;

b) Không đăng tải công khai, kịp thời trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan về các thông tin công bố định kỳ của doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý."

Theo đó, doanh nghiệp vi phạm quy định về công bố thông tin theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư. Việc xử phạt hành chính doanh nghiệp vi phạm trong việc thực hiện công bố thông tin không chỉ gây thiệt hại về tài chính mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín thương hiệu. Qua đó, việc xử lý vi phạm góp phần hạn chế tình trạng doanh nghiệp không coi trọng hoặc thực hiện mang tính hình thức nghĩa vụ công khai thông tin.

Đồng thời, cơ quan đại diện chủ sở hữu căn cứ theo thẩm quyền đánh giá, xếp loại người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định hiện hành về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khi có các hành vi vi phạm sau:

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng thời hạn các quy định về công bố thông tin tại Nghị định số 47/2021/NĐ-CP;

- Nội dung công bố thông tin không chính xác, trung thực.

Việc xem xét xếp loại ở mức thấp người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định hiện hành về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thi đua, tiền thưởng, thậm chí nghiêm trọng hơn là không xem xét tái bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm chức vụ. Nhờ vậy, những cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện công bố thông tin tại doanh nghiệp nhà nước chủ động kiểm tra tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin trước khi công bố và bảo đảm thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn việc công bố thông tin.

Ngoài ra, cơ quan đại diện chủ sở hữu chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc:

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đôn đốc, giám sát, kiểm tra các nội dung về công bố thông tin của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 47/2021/NĐ-CP;

- Không đăng tải công khai, kịp thời trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan về các thông tin công bố định kỳ của doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý.

Cơ chế này có thể góp phần hạn chế tình trạng cơ quan đại diện chủ sở hữu bao che cho hành vi vi phạm của doanh nghiệp nhà nước. Qua đó, pháp luật buộc các cơ quan đại diện chủ sở hữu phải vận hành chuyên nghiệp, cập nhật và công khai minh bạch thông tin theo đúng tiến độ luật định.

Nhìn chung, việc xác định rõ hậu quả pháp lý đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin tạo áp lực phải tuân thủ đối với các chủ thể có liên quan, đồng thời hạn chế tình trạng công khai thông tin thiếu đầy đủ, chính xác hoặc không đúng thời hạn. Cơ chế này còn thúc đẩy việc thực hiện nghiêm túc hoạt động giám sát và công khai thông tin, góp phần nâng cao tính minh bạch trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước và củng cố niềm tin của các bên liên quan đối với doanh nghiệp nhà nước.

Trân trọng./.