Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được xác định như thế nào? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định ra sao?
Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được xác định như thế nào? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định ra sao?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu về doanh nghiệp nhà nước, trong quá trình nghiên cứu, tôi được biết đến doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Liên quan đến vấn đề này, tôi muốn làm rõ doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được xác định như thế nào? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định ra sao? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?
2. Pháp luật xác định doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh như thế nào?
Trả lời:
1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?
Để được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và hưởng các cơ chế đặc thù, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời các điều kiện chặt chẽ về cơ cấu sở hữu vốn, lĩnh vực hoạt động và nhiệm vụ được giao. Nội dung này được pháp luật ghi nhận tại Điều 3 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/04/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 16/2023/NĐ-CP"), cụ thể như sau:
"Điều 3. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh
Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:
1. Là một trong các loại hình doanh nghiệp sau:
a) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
b) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nắm giữ 100% vốn điều lệ.
c) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu 100% vốn điều lệ của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong đó có ít nhất một doanh nghiệp là doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
2. Có ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh kèm theo Nghị định này.
3. Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng nguồn lực từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp."
Theo đó, doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp thuộc một trong các loại hình doanh nghiệp sau:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có 100% vốn điều lệ được sở hữu bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu 100% vốn điều lệ của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong đó có ít nhất một doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Dựa vào cơ cấu sở hữu vốn của các loại hình doanh nghiệp nêu trên có thể hiểu rằng, Nhà nước nắm quyền chi phối tại các doanh nghiệp này, không cho phép sự tham gia góp vốn của các chủ thể tư nhân hay nước ngoài. Bởi lẽ, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh có thể đảm nhiệm việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ và thực hiện những nhiệm vụ gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Do đó, việc thiết lập cơ cấu sở hữu vốn như trên giúp kiểm soát chặt chẽ nguồn lực, hoạt động và việc thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp, hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến các lợi ích liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Thứ hai, doanh nghiệp có ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh kèm theo Nghị định số 16/2023/NĐ-CP. Các ngành, lĩnh vực và địa bàn hoạt động này đều mang tính đặc thù là trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Việc xác định cụ thể danh mục hoạt động giúp giới hạn phạm vi doanh nghiệp được xem xét công nhận, tránh việc chỉ dựa vào cơ cấu sở hữu vốn hoặc cơ quan quản lý để xác định tư cách doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.
Thứ ba, doanh nghiệp được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng nguồn lực từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp. Có thể thấy, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh không tự mình sản xuất theo nhu cầu thị trường như các doanh nghiệp kinh doanh thông thường mà tiến hành sản xuất, thực hiện nhiệm vụ theo chỉ tiêu, kế hoạch phục vụ quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, việc xác định rõ nguồn lực tài chính sẽ bảo đảm sự minh bạch và định hướng doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoạt động theo đúng mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp.
Như vậy, bằng cách siết chặt quy định từ cơ cấu sở hữu vốn đến ngành, lĩnh vực, địa bàn hoạt động và mục tiêu nhiệm vụ, các bí mật quân sự, an ninh quốc gia được bảo mật, đồng thời, hạn chế nguy cơ thất thoát vốn, tài sản nhà nước. Bên cạnh đó, việc thiết lập cụ thể các tiêu chí xác định doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh sẽ giúp Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tập trung nguồn lực và ngân sách đúng chỗ, giao đúng việc cho những đơn vị có đủ năng lực và tư cách thực hiện các nhiệm vụ chiến lược.
2. Pháp luật xác định doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh như thế nào?
Bên cạnh các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, pháp luật còn xác định nhóm doanh nghiệp thực hiện đồng thời hoạt động kinh tế và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là mô hình kết hợp giữa khai thác nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế với việc thực hiện các nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh. Pháp luật ghi nhận nội dung về doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Điều 4 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP, cụ thể như sau:
"Điều 4. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh
Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:
1. Là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.
2. Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất; thực hiện các dự án đầu tư có liên quan đến bí mật quốc phòng, nhiệm vụ quan trọng của quốc phòng, dự án đầu tư trên các địa bàn có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh."
Theo đó, doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:
Thứ nhất, là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Việc Nhà nước nắm giữ trên 50% và dưới 100% vốn điều lệ cho phép doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc lựa chọn loại hình. Nhờ vậy, doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có điều kiện huy động nguồn lực kinh tế ngoài nhà nước nhưng vẫn bảo đảm Nhà nước nắm quyền chi phối trong hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, doanh nghiệp được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất, đồng thời, thực hiện các dự án đầu tư có liên quan đến bí mật quốc phòng, nhiệm vụ quan trọng của quốc phòng, dự án đầu tư trên các địa bàn có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Điều kiện này thể hiện đặc trưng của mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh: Doanh nghiệp vừa tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa tham gia thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, việc xác định rõ chủ thể giao nhiệm vụ và phạm vi công việc giúp bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp gắn với nhu cầu thực tế, đồng thời tạo căn cứ để kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt đối với các dự án liên quan đến bí mật quốc phòng hoặc địa bàn có vị trí chiến lược.
Như vậy, việc đặt ra đồng thời điều kiện về cơ cấu sở hữu vốn nhà nước và nhiệm vụ được giao thể hiện yêu cầu kiểm soát nhất định đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Trong đó, tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và vai trò đại diện chủ sở hữu của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tạo cơ sở để Nhà nước duy trì quyền chi phối, định hướng hoạt động của doanh nghiệp. Còn nhiệm vụ được giao xác lập mối liên hệ cụ thể giữa hoạt động của doanh nghiệp với yêu cầu quốc phòng, an ninh. Sự kết hợp này cho phép doanh nghiệp tiếp tục khai thác nguồn lực, năng lực sản xuất và hoạt động kinh doanh, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
3. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định ra sao?
Do đặc thù hoạt động gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh không chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 mà còn được đặt ra những quyền và nghĩa vụ riêng. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được ghi nhận tại Điều 5 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP, cụ thể như sau:
1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 9 Luật Doanh nghiệp và các quy định sau:
a) Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an bảo đảm đủ nguồn lực, đầu tư đủ vốn điều lệ để thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao.
b) Được sử dụng các nguồn lực được giao để hoạt động sản xuất kinh doanh (ngoài thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh) khi bảo đảm các điều kiện sau:
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chấp thuận, phê duyệt bằng văn bản;
Hoạt động kinh doanh bổ sung có mục đích để kết hợp hỗ trợ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc để phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản;
Không làm giảm năng lực và ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao;
Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.
c) Quản lý nguồn lực được giao để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo các quy định hiện hành.
d) Chấp hành các quy định pháp luật, quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về hợp tác quốc tế khi thực hiện các hoạt động liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
đ) Chấp hành quyết định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc chuyển giao phần vốn hoặc tài sản phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở doanh nghiệp khác trong trường hợp cần thiết theo quy định pháp luật hiện hành.
2. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 9 Luật Doanh nghiệp và các quy định sau:
a) Quản lý nguồn lực được giao để thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh theo các quy định hiện hành.
b) Chấp hành các quy định pháp luật, quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về hợp tác quốc tế khi thực hiện các hoạt động liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh."
Dẫn chiếu đến Điều 9 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:
"Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích
1. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp quy định tại Điều 7, Điều 8 và quy định khác có liên quan của Luật này.
2. Được hạch toán và bù đắp chi phí theo giá do pháp luật về đấu thầu quy định hoặc thu phí sử dụng dịch vụ theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Được bảo đảm thời hạn cung ứng sản phẩm, dịch vụ thích hợp để thu hồi vốn đầu tư và có lãi hợp lý.
4. Cung ứng sản phẩm, dịch vụ đủ số lượng, đúng chất lượng và thời hạn đã cam kết theo giá hoặc phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
5. Bảo đảm các điều kiện công bằng và thuận lợi cho khách hàng.
6. Chịu trách nhiệm trước pháp luật và khách hàng về số lượng, chất lượng, điều kiện cung ứng và giá, phí sản phẩm, dịch vụ cung ứng."
Theo đó, bên cạnh quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh còn có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an bảo đảm đủ nguồn lực, đầu tư đủ vốn điều lệ để thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao. Điều này tạo sự bảo đảm vững chắc từ Nhà nước, giúp doanh nghiệp không bị áp lực tài chính, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quan trọng;
- Được sử dụng các nguồn lực được giao để hoạt động sản xuất kinh doanh (ngoài thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh) khi đáp ứng các điều kiện sau:
+ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chấp thuận, phê duyệt bằng văn bản;
+ Hoạt động kinh doanh bổ sung có mục đích để kết hợp hỗ trợ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc để phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản;
+ Không làm giảm năng lực và ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao;
+ Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh tiến hành sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo chỉ tiêu được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đặt ra. Tuy nhiên, nhu cầu đặt hàng và giao nhiệm vụ có thể không diễn ra liên tục, khiến máy móc, thiết bị và cơ sở vật chất của doanh nghiệp không được khai thác hết công suất trong những khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, việc cho phép doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh bổ sung khi đáp ứng các điều kiện luật định tạo cơ hội tận dụng công suất máy móc, thiết bị và cơ sở vật chất trong thời gian chưa cần huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Hoạt động này không chỉ tạo thêm nguồn thu để hỗ trợ việc thực hiện nhiệm vụ được giao mà còn giúp duy trì hoạt động sản xuất, ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động, hạn chế lãng phí nguồn lực do tài sản không được sử dụng.
Cần lưu ý rằng, việc thực hiện hoạt động kinh doanh bổ sung phải được sự chấp thuận, phê duyệt bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để tránh tình trạng lơ là nhiệm vụ chính hoặc kinh doanh nhằm trục lợi từ tài sản công. Đồng thời, hiệu quả kinh tế phải đi đôi với yêu cầu không làm suy giảm năng lực và không ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp cũng như nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước;
- Quản lý nguồn lực được giao để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo các quy định hiện hành. Yêu cầu quản lý chặt chẽ giúp hạn chế nguy cơ sử dụng sai mục đích, thất thoát hoặc lãng phí nguồn lực được giao. Đồng thời, đây là cơ sở để kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản và các nguồn lực khác, bảo đảm phục vụ đúng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;
- Chấp hành các quy định pháp luật, quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về hợp tác quốc tế khi thực hiện các hoạt động liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Nghĩa vụ này góp phần bảo vệ an ninh quân sự, bí mật nhà nước và an ninh mạng. Do hoạt động liên kết có thể phát sinh việc trao đổi thông tin, tiếp cận công nghệ hoặc sử dụng các hệ thống dữ liệu liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, việc tuân thủ các yêu cầu pháp lý và quy trình thẩm định chặt chẽ giúp nhận diện, kiểm soát rủi ro, hạn chế nguy cơ thu thập thông tin trái phép hoặc xâm phạm bí mật nhà nước. Qua đó, doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn lực từ hợp tác quốc tế nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu về bảo mật và an ninh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao;
- Chấp hành quyết định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc chuyển giao phần vốn hoặc tài sản phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở doanh nghiệp khác trong trường hợp cần thiết theo quy định pháp luật hiện hành. Cơ chế chuyển giao này giúp cơ quan quản lý chủ động bố trí lại nguồn lực giữa các doanh nghiệp khi nhu cầu quốc phòng, an ninh thay đổi. Nhờ đó, vốn và tài sản có thể được tập trung tại đơn vị đang có nhu cầu, hỗ trợ việc thực hiện nhiệm vụ kịp thời và tránh phân bổ nguồn lực không phù hợp với yêu cầu thực tế.
Mặt khác, doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, đồng thời có những quyền và nghĩa vụ sau:
- Quản lý nguồn lực được giao để thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh theo các quy định hiện hành. Điều này có thể góp phần duy trì sự cân đối giữa việc khai thác nguồn lực phục vụ hoạt động kinh tế và việc đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đồng thời, đây là căn cứ để giám sát việc sử dụng nguồn lực, hạn chế tình trạng ưu tiên mục tiêu kinh doanh làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao;
- Chấp hành các quy định pháp luật, quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về hợp tác quốc tế khi thực hiện các hoạt động liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Dù doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có sự linh hoạt hơn trong hoạt động so với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh nhưng vẫn thực hiện những nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được Nhà nước giao. Vì vậy, cần phải kiểm soát chặt chẽ các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm bảo vệ bí mật nhà nước và an ninh quốc gia trong môi trường hội nhập.
Nhìn chung, các quyền và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu phát triển kinh tế và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đồng thời, pháp luật vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy hiệu quả hoạt động, vừa đặt các doanh nghiệp này dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Qua đó, việc sử dụng nguồn lực, tổ chức hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn gắn với mục tiêu bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đặc thù này.
Trân trọng./.