ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG VÀ SỐ TIỀN CHIẾM ĐOẠT TRONG VỤ ÁN “LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN”

Tình huống pháp lý:

Hiện nay, hành vi thuê xe ô tô sau đó dùng giấy tờ giả về nhân thân và xe để cầm cố xe cho người khác nhằm chiếm đoạt tiền xảy ra khá phổ biến. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, các Tòa án còn chưa thống nhất trong việc xác định tư cách người tham gia tố tụng cũng như số tiền người phạm tội chiếm đoạt trong vụ án này.

Một số Tòa án xác định người cho thuê xe ô tô là bị hại, người nhận cầm cố xe là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; từ đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền chiếm đoạt là giá trị định giá của chiếc xe ô tô. (Ví dụ: Quyết định giám đốc thẩm số 04/2022/HS-GĐT ngày 04/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 14/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương; Bản án số 175/2018/HSST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;…)

Một số Tòa án xác định người nhận cầm cố xe là bị hại, người cho thuê xe là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; số tiền người phạm tội chiếm đoạt là số tiền cầm cố xe, không phải giá trị định giá của xe ô tô. (Ví dụ: Bản án số 362/2021/HSPT ngày 20/10/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bản án số 254/2021/HS-PT ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;…)

Một số Tòa án lại cho rằng cả người cho thuê xe và người nhận cầm cố xe ô tô là bị hại; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với cả giá trị định giá xe và số tiền cầm cố xe. (Ví dụ: Bản án số 294/2021/HS-PT ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng)

Mỗi người tham gia tố tung đều có những quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau. Trong mọi trường hợp, nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định sai tư cách người tham gia tố tụng thì đều dẫn đến hậu quả là làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong vụ án, thậm chí là dẫn đến việc xét xử không chính xác. Do đó, việc có án lệ để thống nhất áp dụng pháp luật trong tình huống pháp lý trên là cấp thiết.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[6] …Hành vi khách quan của bị cáo C trong vụ án này là thực hiện hành vi gian dối bằng cách lên mạng internet mua Giấy đăng ký xe ô tô và Giấy phép lái xe giả nhằm mục đích cầm cố xe để chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của ông Trương Hoài P. Hành vi chiếm đoạt số tiền này của bị cáo C đã hoàn thành. Về ý thức chủ quan của bị cáo C hướng tới là nhằm chiếm đoạt số tiền của anh P chứ không phải chiếm đoạt xe ô tô Kia Cerato biển kiểm soát 62A-135.23 của bà Phạm Thị Kim T1, bởi vì trên thực tế chỉ sau khi làm ăn thua lỗ, bị cáo C mới nảy sinh ý định mang xe thuê đi cầm cố lấy tiền. Sau khi bị phát hiện thì chính bị cáo C cũng có thỏa thuận trả tiền thuê xe tháng 5/2020 và hẹn ngày 27/5/2020 trả lại xe cho ông L, bà T1. Hiện tại, chiếc xe vẫn còn đang trong tầm quản lý, kiểm soát của chủ sở hữu là bà T1. Như vậy, động cơ, mục đích của C không phải nhằm chiếm đoạt xe ô tô đã thuê, thực tế xe ô tô đã thuê vẫn còn nguyên, chỉ dịch chuyển người quản lý. C hoàn toàn không có ý thức chiếm đoạt xe ô tô này mà chỉ thông qua việc thuê xe để cuối cùng lừa đảo chiếm đoạt tiền của người nhận cầm xe. Tòa án cấp sơ thẩm xác định chủ xe là người bị hại trong vụ án để rồi quy kết Đỗ Văn C chiếm đoạt xe ô tô trị giá 547.770.000 đồng là xác định sai tư cách người bị hại trong vụ án, không phù hợp với tính chất, hành vi vụ án, cũng như động cơ, mục đích của Đỗ Văn C. Người bị hại trong vụ án này chính là người nhận cầm xe và đưa tiền cho C là anh Trương Hoài P. Trên cơ sở nội dung vụ án này thì thực tế Đỗ Văn C chỉ chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng, chứ không phải số tiền 547.770.000 đồng như cấp sơ thẩm đã quy kết.

…

[8] Từ việc định tội danh không đúng như đã nêu trên, dẫn tới Tòa án cấp sơ thẩm đã không xác định chính xác người tham gia tố tụng trong vụ án nên cần xác định lại như sau: Người bị hại là ông Trương Hoài P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đào Thanh L, bà Phạm Thị Kim T1.”