ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ DIỆN TÍCH ĐẤT CHUYỂN GIAO TRÊN THỰC TẾ LỚN HƠN SO VỚI DIỆN TÍCH TRONG VĂN BẢN CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tình huống pháp lý:

Trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, một dạng tình huống thường xuyên phát sinh là giao dịch được xác lập nhằm cấn trừ nghĩa vụ trả nợ, được thể hiện bằng giấy tờ viết tay, không đầy đủ về hình thức, thậm chí không thống nhất giữa nội dung văn bản và quá trình thực hiện trên thực tế. Khi tranh chấp xảy ra, các bên thường tập trung vào việc giải thích câu chữ trong văn bản để phủ nhận hoặc thu hẹp phạm vi nghĩa vụ đã thực hiện, trong khi các cơ quan tiến hành tố tụng lại phải đối mặt với yêu cầu đánh giá ý chí thực sự của các bên và bảo đảm sự ổn định của các quan hệ dân sự đã hình thành.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều thừa nhận do vợ chồng bà K, ông S vay tiền của bà T nhưng không có khả năng trả nên các bên có viết “Giấy sang nhượng đất vườn điều” không đề ngày, tháng, năm (bút 5 lục 10) để cấn trừ nợ, chữ ký trong Giấy sang nhượng nêu trên là của ông S, bà K, bà T nên căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng 2015 Tòa án công nhận đây là sự thật. Nguyên đơn bà K cho rằng theo nội dung Giấy sang nhượng đất vườn điều (bút lục 10) thì vợ chồng bà chỉ đồng ý sang nhượng cho bà T diện tích đất 10.000m2 , phần diện tích đất còn lại 758,2m2 ông bà không đồng ý chuyển nhượng cho bà T. Xét lời trình bày nêu trên của bà K, ông S là không có căn cứ bởi lẽ: Mặc dù “Giấy sang nhượng đất vườn điều” ghi diện tích chuyển nhượng là 10.000m2 nhưng trên thực tế sau khi chuyển nhượng bà K, ông S đã giao toàn bộ diện tích đất chuyển nhượng 10.758,2m2 cho bà T quản lý, sử dụng. Ngày 06/8/2012 bà T đã chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông T, bà N. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này chính bà K, ông S là người trực tiếp ký với ông T, bà N trong đó có ghi rõ diện tích đất chuyển nhượng là 10.758,2m2 nhưng bà K, ông S không có ý kiến phản đối gì. Từ năm 2012 đến nay ông T, bà N đã quản lý, sử dụng và thu hoạch tài sản trên đất, được UBND huyện P cấp lại GCNQSDĐ đứng tên ông T, bà N (bút lục 65) nhưng bà K, ông S cũng không có ý kiến gì. Như vậy, có căn cứ xác định về ý chí là bà K, ông S chuyển nhượng cho bà T toàn bộ diện tích đất 10.758,2m2 nêu trên nên việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K, ông S là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật và các tình tiết khách quan trong vụ án. Do đó, kháng cáo của bà K về phần này không được chấp nhận.”.