ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Tình huống pháp lý:

Tranh chấp phát sinh từ yêu cầu khởi kiện hành chính đề nghị Tòa án hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định pháp luật. Vấn đề đặt ra là liệu Tòa án có thể viện dẫn quy định Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận trong trường hợp người được cấp đã chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp để bác yêu cầu khởi kiện hay không. Đồng thời, xuất hiện cách hiểu khác nhau về việc quy định này có mâu thuẫn với thẩm quyền hủy quyết định hành chính của Tòa án trong tố tụng hành chính hay không.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[5] Tòa án cấp phúc thẩm cũng xác định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4 là bị chồng lên phần đất của gia đình ông T, ông T2. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2 với lý do: căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/ND-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì Nhà nước không thu hồi GNQSDĐ trong trường hợp GCNQSDĐ đã cấp không đúng nhưng người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai ... nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, GCNQSDĐ là quyết định hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử trong phạm vi thẩm quyền của mình xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và có quyền quyết định tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính. Mặt khác, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ dẫn đến việc tồn tại một lúc 03 GCNQSDĐ với cùng một diện tích 153m2 (GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông Trần Ngọc T, GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông Nguyễn Văn T1 (T2) và GCNQSDĐ năm 2017 của hộ gia đình ông Trần Văn D, bà Trần Thị T4, sau này chỉnh lý sang cho ông Trần Văn T5 bà Trần Thị T6) là không đúng.”