ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG HƯU TRÍ

Tình huống pháp lý:

Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp do cá nhân là cán bộ hưu trí đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng: tại điểm b khoản 2 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã liệt kê những đối tượng nào là cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong đó bao gồm cả đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội và chỉ cần có một thành viên của hộ gia đình không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên là đã xem như cả hộ gia đình thuộc trường hợp sản xuất nông nghiệp theo điểm b khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017; từ đó, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Văn bản số 299/UBND-KT ngày 14/11/2019 của UBND thị trấn C (có nội dung xác nhận bà T không trực tiếp sản xuất nông nghiệp do bà T là đối tượng nghỉ hưu) là chưa chính xác để bác yêu cầu khởi kiện của bà T là không đúng. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bà T, sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T; hủy Quyết định số 39/ỌĐ-UBND về giải quyết khiếu nại; buộc UBND huyện N tiếp tục giải quyết khoản tiền hồ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà T là không đúng vì cho dù bà T có trực tiếp sản xuất nông nghiệp hay không nhưng bà T là đối tượng đã nghỉ hưu, được hưởng lương hưu hàng tháng nên không thuộc trường hợp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiểm việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Mặt khác, GCNQSDĐ, QSHNỞ & TS khác gắn liền với đất do UBND huyện N cấp là cho cá nhân bà T, không phải cấp cho hộ gia đình nên trong trường họp này không có cơ sở để áp dụng điểm b khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT nêu trên.

[4] Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn nhận định: Quyết định số 2074/QĐ- UBND-HC chỉ giải quyết phần bồi thường giá trị đất, không có nội dung giải quyết chấp nhận hay bác khoản hỗ trợ đào tạo, chuyển đối nghề và tìm kiếm việc làm, mà phần bồi thường giá trị đất thì người khởi kiện đã đồng ý nên không cần thiết phải hủy quyết định này mà chỉ cần hủy Quyêt định số 39/QĐ-UBND vê việc giải quyết khiếu nại của bà T là chưa giải quyết triệt để vụ án và có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật.

[5] Sau khi xét xử phúc thẩm, UBND huyện N đã thi hành Bản án hành chính phúc thẩm, ban hành Quyết định số 519/QĐ-UBND-NĐ ngày 07/9/2023 hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho bà T với tổng số tiền 303.900.000 đồng, bà T không nhận tiền vì không đồng ý bồi thường, hỗ trợ theo giá đất năm 2019 (thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất), mà yêu cầu bồi thường, hỗ trợ theo giá đất tại thời điểm hiện nay.”