Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (khoai tây) giữa bên bán ở Cộng hòa Séc với bên mua ở Cộng hòa Slovakia xét xử tại Tòa án quận Komarno (Cộng hòa Slovakia) vào ngày 24/02/2009
Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (khoai tây) giữa bên bán ở Cộng hòa Séc với bên mua ở Cộng hòa Slovakia xét xử tại Tòa án quận Komarno (Cộng hòa Slovakia) vào ngày 24/02/2009
1. Các bên tranh chấp
Nguyên đơn: Cộng hòa Séc (bên bán).
Bị đơn: Cộng hòa Slovakia (bên mua).
Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án quận Komarno - Cộng hòa Slovakia ngày 24/02/2009.
2. Diễn biến tranh chấp Tranh luận giữa các bên:
Bên bán đã yêu cầu bên mua bồi thường chi phí trong quá trình tố tụng từ ngày 30 tháng 8 năm 2005 với tổng số tiền là 1.005,65 EURO, lãi suất 13% hàng năm (tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2004 cho đến khi thanh toán). Bên bán lập luận rằng bên mua đã không thanh toán số tiền bồi thường theo quy định. Bên mua phản đối Lệnh trả tiền của Toà án ngày 26/10/2005 và cho rằng quyền của bên bán đối với phần còn lại được yêu cầu của giá mua đã chấm dứt vì bên mua được giảm giá khi giao hàng bị lỗi.
Bên bán cho biết yêu cầu khởi kiện liên quan đến một phần chưa thanh toán theo hóa đơn số 320626 với tổng số tiền 138.700.- Kc (đồng Koruna). Bên bán cho biết hàng hóa được giao cho bên mua bằng xe tải và bên mua đã nhận hàng bằng cách ký CMR vào ngày 10/6/2004. Bên mua đã trả một phần tiền hàng sau ngày đáo hạn (01/11/2004). Do đó, bên bán yêu cầu thanh toán phần còn lại của tiền hàng lên tới 34.960.- Kc (đồng Koruna). Bên mua cho rằng yêu cầu của bên bán là không chính đáng. Bên mua cho rằng bên đó đã khấu trừ từ số tiền hóa đơn là 138.700.- kc 1 phần 34.960.-kc (đồng Koruna) mà chưa được điều chỉnh. Việc khấu trừ do bên mua đơn phương thực hiện ứng với quyền giảm giá mua hàng (12.000 kg khoai tây mới) được giao ngày 11/4/2004 khi bên mua từ chối nhận 144 kg hàng hóa vì hàng có khiếm khuyết và sau đó thông báo cho bên bán về việc không phù hợp của 3.680kg khoai tây do bị hỏng. Bên mua tranh luận rằng mình đã gửi thông báo kịp thời về sự thiếu phù hợp của hàng hóa. Vì bên mua đã trả một phần tiền hàng theo hóa đơn số 320651 một khoản là 103.147 kc bên mua yêu cầu có quyền giảm giá hàng.
Bên bán cho rằng bên mua đã thông báo muộn về việc hàng hóa không phù hợp và đề nghị Tòa án xem xét yêu cầu này. Tuy nhiên, bên mua không đồng ý vì cho rằng sau ngày giao hàng, bên bán mới thông báo về việc giao hàng không đúng yêu cầu, đồng thời, đề nghị tòa thẩm vấn nhân chứng để chứng minh. Bên mua lập luận rằng, yêu cầu giảm giá của họ xuất phát từ thực tế tại thời điểm giao hàng, họ chỉ kiểm tra hàng ngẫu nhiên, do đó ban đầu họ phát hiện hàng giao không đúng yêu cầu chỉ với 144kg khoai tây. Sau khi bên mua phân loại hàng hóa thì mới phát hiện thêm nhiều hàng giao không phù hợp và thông báo về lượng hàng hóa không phù hợp. Theo hướng dẫn của nhân viên của bên bán, bên mua đã rửa hàng hóa và phân loại chúng để giảm thiểu thiệt hại phát sinh do việc giao hàng không đúng chất lượng. Do đó, bên mua chỉ có thể xác định mức giảm giá sau khi bán lại hàng hóa cho khách hàng của mình. Sau khi bán lại, bên mua đã yêu cầu giảm giá theo số tiền hàng bằng tin nhắn telefax gửi cho bên bán vào ngày 29 tháng 6 năm 2004.
Ngày 25 tháng 3 năm 2008, Tòa án đã đưa ra phán quyết số 5Cb/114/2006116. Theo đó, tòa bác bỏ yêu cầu của bên bán và yêu cầu bên bán trả cho bên mua chi phí tố tụng. Bên bán đã kháng cáo lên tòa phúc thẩm. Tòa phúc thẩm trả hồ sơ để điều tra lại. Tòa phúc thẩm cho rằng tòa sơ thẩm đã phân tích tình tiết không phù hợp vì tòa sơ thẩm áp dụng Bộ luật Thương mại SLovak thay vì áp dụng CISG.
Tòa án cấp sơ thẩm sau đó đã quyết định xét xử công khai vào ngày 24 tháng 2 năm 2009. Bên bán chỉ ra rằng Tòa án đã thực hiện các cuộc điều tra mở rộng có liên quan đến vụ án này và không có cuộc điều tra nào được đề xuất bởi bên bán. Cuối cùng, bên bán đã đề xuất kiểm tra công ty TS tại kho của mình ở T., nơi phần thứ hai của hàng hóa đã được dỡ xuống, để xác định xem những hàng hóa đó có bị lỗi như hàng hóa đã giao không. Bên mua cho rằng việc kiểm tra này không khách quan.
Tòa sơ thẩm đã kiểm tra lại các chứng cứ được đưa ra theo yêu cầu của tòa phúc thẩm và xác định diễn biến thực tế và hoàn cảnh pháp lý như sau:
Ngày 11 tháng 6 năm 2004, bên bán đã giao cho bên mua hàng hóa 12.000 kg khoai tây mới. Khi khoai tây đang được bàn giao, vào tối muộn thứ Sáu, tài xế và nhân viên kho đã phát hiện số lượng khoai tây được giao không đúng theo hợp đồng, mỗi bao giảm 40 kg.
Ngày làm việc tiếp theo (thứ Hai), bên mua đã kiểm tra chi tiết hàng hóa và phát hiện ra rằng các túi bị ướt và khoai tây đã bắt đầu quá trình lên men. Cùng ngày, nhân viên của bên mua. Ing. S.S., gọi điện thoại cho bà S, một nhân viên của bên bán và thông báo về việc hàng hóa không đáp ứng tiêu chuẩn hợp đồng và không thể nhận hàng hóa vì đây là vi phạm cơ bản hợp đồng. Nhân viên của bên bán hướng dẫn bên mua rửa khoai tây tại cơ sở để giảm thiểu thiệt hại. Bên mua đồng ý làm theo nhưng cảnh báo rằng việc này sẽ phát sinh chi phí cho bên mua và các thiệt hại phát sinh sẽ chỉ được tính toán sau khi phân phối hàng hóa cho các cửa hàng. Ngày 17/6/2004, các bên trong hợp đồng đã gặp và thương lượng về chi phí bồi thường bổ sung cho bên mua vì hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn. Bên mua và công ty C.S đã yêu cầu nhân viên của bên bán thông báo cho bà S - nhân viên của bên bán về những kết luận này.
Bên mua đã trả tiền cho số khoai tây được giao vào ngày 11 tháng 6 năm 2004 với giá 103.147,20 Kc (đồng Koruna) vào ngày 11 tháng 6 năm 2004. Số tiền được tính sau khi người mua giảm giá 1.252,80 Sk cho 144 kg hàng hóa được đề cập trong hóa đơn số 320651.
Bên mua gửi các tính toán thiệt hại cho bên bán vào ngày 29/6/2004. Trong khi đó, bên bán đã thực hiện giao hàng khác cho bên mua vào ngày 8/6/2004. Theo đó, bên bán yêu cầu giá là 138.700.- Kc (đồng Koruna) theo hóa đơn số: 320626. Bên mua đã thanh toán một phần tiền hàng vào ngày 11/11/2004 với số tiền là 103.740. - Kc (đồng Koruna). Bên mua đã bồi thường thiệt hại đơn phương đối với mức giá này lên tới 34.960. - Kc (đồng Koruna).
3. Quyết định của Tòa án quận Komarno
Liên quan đến các bằng chứng thu thập được, Tòa án quyết định rằng yêu cầu của bên bán đề nghị thanh toán phần còn lại của tiền hàng là không chính đáng. Tòa nhấn mạnh rằng thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa đã được đưa ra một cách hợp lệ và đúng thời hạn. Sự thật này được chứng minh bằng lời khai của nhân chứng - đại diện kinh doanh của bên mua Ing. S. đã gọi điện thoại cho nhân viên của bên bán và bên bán đã có đại diện kiểm tra hàng hóa vào ngày làm việc tiếp theo. Nhân chứng của bên mua đã mô tả chính xác cách thức thông báo về hàng hóa không phù hợp và thể hiện mục đích của bên mua rằng hợp đồng vô hiệu và bên mua chỉ đồng ý với số tiền được giảm sau khi rửa khoai tây và bán lại cho bên mua.
Thực tế này không gây cản trở việc xét xử khi nhân chứng bà S tuyên bố không nhớ tình tiết vì sự việc đã xảy ra rất lâu. Nhân chứng P.G khẳng định trong trường hợp giao hàng thường xuyên, thông báo về hàng hóa không phù hợp có thể thực hiện bằng cuộc gọi điện thoại. Nhân chứng cũng xác nhận rằng các cuộc thương lượng giữa các bên tham gia tố tụng liên quan đến hàng hóa không phù hợp được thông báo.
Bên mua đưa ra các lập luận chống lại bên bán đối với các hóa đơn chưa thanh toán nhưng không chứng minh được cơ sở pháp lý theo quy định. Tính toán thiệt hại đã được giao cho bên bán thực hiện từ 29/6/2004. Tòa quyết định rằng tất cả các yêu cầu áp dụng theo điều 50 của CISG, nghĩa là dù tiền hàng đã được trả hay chưa người mua có thể giảm giá hàng theo tỷ lệ căn cứ vào sự khác biệt giữa giá trị thực của hàng hóa vào lúc giao hàng và giá trị của hàng hóa nếu hàng phù hợp với hợp đồng vào lúc giao hàng.
Tòa xác định rằng bên mua đã đáp ứng các yêu cầu của khoản (1) và (2) của Điều 39 của Công ước, vì đã thông báo cho bên bán về sự không phù hợp của hàng hóa, nêu rõ bản chất của các khiếm khuyết, trong một thời gian hợp lý sau khi họ phát hiện ra hoặc phải phát hiện ra các khiếm khuyết. Tòa cũng đề cập đến đặc tính của hàng hóa - khoai tây mới, không bị suy giảm nhanh chóng. Tòa đã bác bỏ đề nghị điều tra bằng chứng về việc bán kho của T. Người bán của Công ty T.S., vì công ty này là công ty con của bên bán và lời khai của họ có thể bị ảnh hưởng bởi thực tế này. Tòa án phán quyết về việc bồi hoàn chi phí tố tụng có liên quan đến mục 142 CPC phần 1 và bên mua được hoàn trả đầy đủ chi phí của mình vì đã thắng kiện.
Cuối cùng, tòa kết luận rằng: Bác bỏ yêu cầu của bên bán và bên bán có nghĩa vụ bồi thường 1.005,65 Euro cho bên mua trong vòng ba ngày kể từ ngày phán quyết có hiệu lực.
*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên Điều 50 CISG.
“Ðiều 50
1. Nếu người bán giao hàng trước thời hạn quy định thì người mua được quyền lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ chối việc giao hàng đó.
2. Nếu người bán giao một số lượng nhiều hơn số lượng quy định trong hợp đồng, thì người mua có thể chấp nhận hay từ chối việc giao số lượng phụ trội, nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụ trội nói trên thì người mua phải trả tiền hàng phụ trội. Nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụ trội nói trên thì người mua phải trả tiền hàng phụ trội theo giá hợp đồng quy định.”