Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (cam đóng chai) giữa bên mua ở Đức với bên bán ở Trung Quốc giải quyết tranh chấp tại Ủy ban Trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc
Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (cam đóng chai) giữa bên mua ở Đức với bên bán ở Trung Quốc giải quyết tranh chấp tại Ủy ban Trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc
1. Các bên tranh chấp
Các bên tham gia vụ việc:
- Nguyên đơn: Bên mua (Đức)
- Bị đơn: Bên bán (Trung Quốc)
- Cơ quan giải quyết tranh chấp: Ủy ban Trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc
2. Diễn biến tranh chấp
Ngày 18 tháng 10 năm 1994 và tháng 12 năm 1994, người mua đã ký 02 hợp đồng mua 39.900 thùng cam đóng hộp với người bán. Trong đó, theo Hợp đồng số 1, người mua đã mua 30 container cam đóng hộp (30.000 thùng) với đơn giá 11,30 USD/ thùng, C & F Hamburg, với tổng trị giá 339.000 USD; thời gian vận chuyển là từ tháng 12 năm 1994 đến tháng 4 năm 1995. Theo Hợp đồng số 2, người mua đã mua 10 container cam đóng hộp (9,900 thùng) với đơn giá 12 đô la Mỹ / thùng CIF Hamburg, tổng cộng là 118.800 đô la Mỹ; thời gian vận chuyển là từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 3 năm 1995.
Sau khi ký kết hai hợp đồng này, hai bên đã có tranh chấp về việc giao hàng. Bên bán đã giao 2.000 thùng theo Hợp đồng số 2 nhưng 37.900 thùng còn lại chưa được giao. Cụ thể:
a) Hợp đồng số 1
Sau khi ký hợp đồng này, người bán đã gửi thư cho người mua nói rằng họ chỉ có thể giao 9 container hàng hóa thay vì 30 container theo hợp đồng vì tình hình sản xuất cam đóng hộp không tốt, và chi phí cho nguyên liệu đang tăng lên nhanh chóng, khiến nhà sản xuất không thể thực hiện hợp đồng đã được ký kết. Sau đó, người bán yêu cầu tăng giá hợp đồng vì giá cam đóng hộp quá cao và số lượng hàng hóa bị hạn chế. Người mua đã đồng ý tăng giá cho hàng hóa (đối với hàng không liên quan đến vụ việc này) với điều kiện toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng phải được vận chuyển. Tuy nhiên, người bán không giao hàng mà gửi thư nói do lụt lội ở Hồ Nam gây thiệt hại nghiêm trọng trong sản xuất cam, dẫn tới sản lượng cam giảm, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các hợp đồng giữa hai bên. Do đó, người bán yêu cầu hoãn thực hiện hợp đồng.
b) Hợp đồng số 2
Sau khi ký kết hợp đồng này, người bán không giao được 10 container hàng hóa theo hợp đồng, mà chỉ giao 02 container và người bán chưa bao giờ giải thích về việc không thực hiện hợp đồng, mà chỉ gửi một thư cho người mua về vấn đề này vào ngày 6 tháng 3 năm 1995, nói rằng "chúng tôi rất tiếc phải thông báo cho bạn rằng chúng tôi chỉ có thể giao 2 can (20FCL) hàng hóa trong mùa này, được bảo đảm bởi chúng tôi từ tỉnh Quảng Tây...".
Người mua đã khởi kiện lên Trọng tài. Trong các phiên tòa, người mua cho rằng vì người bán không giao hàng đủ 37.900 thùng còn lại nên để đảm bảo việc thực hiện một hợp đồng khác của người mua, người mua phải mua 02 lô hàng hóa thay thế từ nhà cung cấp tại Tây Ban Nha (lô đầu tiên 28.750 thùng hàng và lô thứ hai 9.150 thùng, tổng cộng là 37.900 thùng) nhưng chất lượng cam không được đảm bảo dẫn tới người mua bị thiệt hại vì phải chiết khấu giá, chịu chênh lệch giá giữa hai hợp đồng cũng như mất khoản lợi nhuận đáng lẽ được hưởng nếu hợp đồng giữa các bên được thực hiện. Người mua yêu cầu Trọng tài phán quyết người bán phải bồi thường các khoản thiệt hại nói trên.
3. Phân tích án lệ và phán quyết của Trọng tài
Trọng tài lưu ý rằng địa điểm kinh doanh của người mua và người bán là Đức và Trung Quốc, là các quốc gia ký kết của CISG. Do tranh chấp trong trường hợp này là về bán hàng hóa quốc tế, nên Trọng tài đã áp dụng CISG để giải quyết vụ việc.
3.1. Lập luận của người mua
Người mua khẳng định rằng thị trường cam thay đổi và tình hình sản xuất cam kém không phải là lý do chính đáng để người bán từ chối thực hiện theo hợp đồng. Hợp đồng giữa hai bên không cấm việc người bán có thể lấy nguồn hàng từ các nhà sản xuất khác thậm chí là các nhà sản xuất ở ngoài tỉnh Hồ Nam, do đó, khi nhà sản xuất của người bán ở tỉnh Hồ Nam không thể cung cấp hàng hóa, người bán có thể lấy các nguồn hàng khác để thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Việc người bán không giao đủ số lượng thùng cam như hợp đồng là vi phạm cơ bản hợp đồng và phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Theo Điều 18 của Luật Trung Quốc về hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài quy định rằng: "Một bên có quyền được bồi thường nếu bên kia không thực hiện hợp đồng dẫn tới vi phạm hợp đồng." Điều 19 của Luật tương tự quy định rằng: "Trách nhiệm của một bên phải bồi thường cho việc vi phạm hợp đồng của mình bằng với tổn thất mà bên kia phải gánh chịu do hậu quả của việc vi phạm đó."
Các thiệt hại mà người mua yêu cầu người bán bồi thường gồm:
(i) Thiệt hại do chênh lệch giá
Tại các phiên xét xử, người mua đã dẫn chứng rằng ngày 18 tháng 11 năm 1994, người mua đã ký Hợp đồng số 4499 với Công ty Markant tại Hamburg, theo đó người mua phải bán cho Công ty Markant 40 container (1.000 thùng/container và 48 lon/thùng) cam đóng hộp (tỷ lệ bã 7%) với giá: 0,56 mác Đức/lon, CIF Hamburg, bao gồm thuế và phí tái chế. Hàng hóa sẽ được giao vào tháng 1 ~ tháng 4 năm 1995 với 10 container/lô hàng/tháng.
Người mua đã lên kế hoạch thực hiện hợp đồng này bằng cách mua 40
thùng cam đóng hộp theo hai hợp đồng mà họ đã ký kết với người bán. Tuy nhiên, sau khi người bán tuyên bố rằng họ không thể giao hàng, người mua đã phải mua hai lô hàng thay thế để thực hiện Hợp đồng số 4499. Cụ thể:
- Lô hàng thay thế đầu tiên:
Lô này gồm 25 container (28.750 thùng) cam Tây Ban Nha đóng hộp theo Hợp đồng số 4679 được ký ngày 24 tháng 2 đã được mua từ Công ty Perez Escamez S. A (sau đây gọi là "Công ty P"). Dưới đây là những thiệt hại mà người mua phải chịu khi mua 25 container hàng hóa thay thế này:
+ Giá FOB cho mỗi thùng quy đổi sang tiền DM là 25,46 mác Đức/thùng.
+ Phí vận chuyển đường biển: 1,00 mác Đức
+ Phí bảo hiểm 1%, phí chứng từ: 0,26 mác Đức
+ Phí vận chuyển và phí lưu trữ tại kho của người mua: 0,96 mác Đức/ hùng
+ Phí tái chế theo Luật của Đức: 0,0367 mác Đức/can, tức là, 1.762 mác Đức/thùng
Tổng số các khoản trên là 29.442 mác Đức/thùng, tức là 0,6133 mác Đức/lon.
Giá theo Hợp đồng số 4499 là 0,56 mác Đức/lon (giá giao hàng đến kho tại Hamburg), bao gồm phí hải quan và phí tái chế. Tuy nhiên, vì lô hàng thay thế này có chất lượng hàng kém hơn (tỷ lệ bã 20% ~ 25%) so với chất lượng hàng theo yêu cầu tại Hợp đồng số 4499 (tỷ lệ bã 7%), do đó, người mua đã phải bán cam Tây Ban Nha với giá chiết khấu 5%, tức là 0,532 DM / lon (giá để giao hàng đến kho ở Hamburg).
Do đó, chênh lệch giá theo thùng giữa giá của hàng hóa thay thế (0,6133 mác Đức/lon) với giá theo Hợp đồng số 4499 (0,532 mác Đức/lon) là 3,9024 mác Đức/thùng.
Do đó, tổn thất của người mua khi mua lô hàng này là: 28.750 thùng x 3,9024 mác Đức/thùng = 112.194 mác Đức
- Lô hàng thay thế thứ hai
Lô này gồm 30 container hàng hóa thay thế (9.150 thùng) theo Hợp đồng số 4605 được ký bởi người mua và Công ty C vào ngày 9 tháng 1 năm 1995. Dưới đây là những tổn thất mà người mua phải chịu do mua 30 container hàng hóa thay thế này:
+ Giá FOB cho mỗi thùng tính theo tiền mác Đức (DM) là 24,24 DM/thùng
+ Phí vận chuyển đường biển: 1,00 DM
+ Phí bảo hiểm 1%, phí chứng từ: 0,25 DM
+ Phí vận chuyển và phí lưu trữ tại kho của người mua: 0,96 DM/thùng
+ Phí tái chế theo Luật của Đức: 0,0367DM/ lon, tức là, 1,762 DM/thùng Tổng cộng 26,212 DM/thùng, tức là, 0,588 DM/lon.
Các hàng hóa nói trên cũng được mua để thay thế hàng hóa theo Hợp đồng số 4499. Người mua phải bán hàng hóa với giá chiết khấu 5%, tức là 0,5208 DM/lon (giá để giao đến kho tại Hamburg). Chênh lệch giá giữa giá cho hàng hóa thay thế (0,588DM / lon) và giá theo Hợp đồng số 4499 (0,5208 DM) là 0,0672 USD, tức là 3.2256 DM/thùng. Như vậy, tổng thiệt hại theo Hợp đồng số 4605 là 9.150 thùng x 3.2256 DM/thùng = 29.514,24 DM.
Tổng thiệt hại của bên mua do vi phạm hợp đồng của bên bán như sau: 112.194 DM + 29.514,24 DM = 141.708,24 DM. Dựa trên tỷ giá hối đoái 1 đô la Mỹ = 1,5622 DM, tổng thiệt hại mà bên mua phải chịu là 90.710,69 đô la Mỹ.
(ii) Thiệt hại do bị mất lợi nhuận lẽ ra được nhận
Do việc không giao hàng của người bán, người mua đã mất khoản lợi nhuận mà lẽ ra phải nhận, gồm:
* Mất khoản lợi nhuận theo Hợp đồng số 1
Giá thị trường của hàng hóa theo hợp đồng tại thời điểm đó là 12,15 đô la Mỹ/thùng và người mua phải nhận được chênh lệch giá giữa giá này và giá theo Hợp đồng số 1, tức là 11,30 đô la Mỹ/thùng; do đó, tổng thiệt hại cho 30.000 thùng hàng hóa mà người mua phải chịu là 25.500 đô la Mỹ.
* Mất khoản lợi nhuận theo Hợp đồng số 2
Người bán đã giao 2.000 thùng theo hợp đồng này với 7.900 thùng còn lại chưa được giao. Giá hợp đồng cho các hàng hóa này là 12 USD/thùng; do đó, tổn thất lợi nhuận là 1.185 đô la Mỹ dựa trên giá thị trường nói trên, tức là, 12,15 đô la Mỹ/thùng.
Do đó, tổng thiệt hại mà người mua phải chịu là 26.685 USD.
Dựa trên các sự kiện nói trên, người mua yêu cầu Trọng tài phán quyết rằng:
- Người bán sẽ thanh toán cho người mua khoản lỗ chênh lệch giá 90.710,69 USD;
- Người bán sẽ trả cho người mua khoản lợi nhuận bị mất là 26.685 USD;
- Người bán sẽ trả phí luật sư của người mua là 42.765,68 USD; - Người bán sẽ chịu toàn bộ phí trọng tài.
3.2. Lập luận của người bán
Người bán cho rằng họ không thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng do "bất khả kháng" và người bán không chịu trách nhiệm pháp lý. Cụ thể, do lượng mưa ở Trung Quốc năm 1994 rất cao và có ba trận lụt ở tỉnh Hồ Nam, nhiều vườn cam đã bị phá hủy. Cam giống khí hậu khô và mưa quá nhiều đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của cam, kết quả là sản lượng cam năm 1994 giảm rất nhiều. Ngoài ra, cam năm đó có hàm lượng nước cao, không phù hợp để trữ, kết quả là chi phí cho cam đóng hộp tăng và sản xuất giảm. Một số nhà sản xuất cam đóng hộp không thể sản xuất hàng hóa. Người bán đã làm hết sức và thực hiện một phần của hợp đồng, tuy nhiên, vì lý do không thể tránh khỏi và không kiểm soát được, người bán đã không thực hiện toàn bộ hợp đồng, đây không phải là vi phạm hợp đồng có chủ ý.
Điều 3 của hợp đồng, điều khoản bất khả kháng, được ký bởi người mua và người bán quy định rằng: "Nếu người bán không thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng do bất khả kháng, thời gian vận chuyển phải được hoãn lại một cách hợp lý hoặc hợp đồng có thể bị hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ và người bán nên được miễn trách nhiệm nếu nó cung cấp cho người mua bằng chứng bất khả kháng”. Và Điều 24 của Luật Trung quốc về hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài quy định rằng: "Một bên không thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng do bất khả kháng nên được miễn trừ khỏi việc mang một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm".
Bởi vị trí của bên bán là bất khả kháng khiến bên bán không thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, bên bán nên được miễn trách nhiệm đối với mọi yêu cầu của bên mua.
Ngoài ra, người bán đã thông báo cho người mua về các lý do nêu trên, yêu cầu được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nhưng đã bị người mua từ chối. Người bán đề nghị tăng giá hợp đồng để giải quyết vấn đề, điều này cũng bị người mua từ chối và đặt người bán vào tình huống cực kỳ không công bằng.
Việc mua hàng hóa thay thế của người mua từ Tây Ban Nha là không hợp lý và không thể thấy trước được bởi người bán. Hàng hóa được mua bởi người mua từ Tây Ban Nha không nên được coi là hàng hóa thay thế vì:
+ Người mua không cung cấp bằng chứng cho thấy hàng hóa mua từ Tây Ban Nha sẽ được bán lại cho Hợp đồng số 4499 (bao gồm hợp đồng, B/L, tờ khai Hải quan, chứng từ thanh toán ngân hàng). Người mua không thể chứng minh rằng có bất kỳ mối liên hệ nào giữa hàng hóa được mua từ Tây Ban Nha và hàng hóa không được giao theo Hợp đồng số 1 và Hợp đồng số 2 của người mua và người bán.
+ Có sự khác biệt về loại hàng giữa các hợp đồng: Người mua thừa nhận trong đơn đăng ký trọng tài rằng hàng hóa được mua từ Tây Ban Nha là loại bình thường với tỷ lệ bã 20% ~ 25%; tuy nhiên, hàng hóa không được giao bởi người bán chỉ có tỷ lệ bã 7% (thực tế nó chỉ là 5%). Hàng hóa thay thế phải là hàng hóa có số lượng và chất lượng có thể thay thế cho hàng hóa trong hợp đồng ban đầu; nói cách khác, chúng không phải là hàng hóa thay thế.
+ Có sự khác biệt về thời hạn giao hàng giữa các hợp đồng: Thời hạn giao hàng trong Hợp đồng số 4499 là tháng 1 ~ tháng 4 năm 1995 và người mua không thể cung cấp hàng hóa cho khách hàng đúng thời hạn do việc không giao hàng của người bán. Ngày giao hàng trong hai hợp đồng đối với hàng hóa thay thế do người mua cung cấp là tháng 1 ~ tháng 6 năm 1995; tuy nhiên, người mua không cung cấp bằng chứng cho thấy họ đã đạt được thỏa thuận với khách hàng về việc chậm giao hàng.
Người mua đã không đảm bảo các điều kiện để mua hàng hóa thay thế theo CISG. Điều 39 và 46 của CISG quy định rằng người mua phải thông báo cho người bán trước khi mua hàng hóa thay thế. Đồng thời, Điều 75 của CISG quy định rằng: “Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán hàng lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo Điều 74”.
Quy định này yêu cầu: i) Người mua phải hủy hợp đồng; ii) người mua có thể mua hàng hóa thay thế trong một thời gian hợp lý sau khi huỷ hợp đồng; iii) người mua phải mua hàng hóa thay thế một cách hợp lý; iv) người mua phải mua "hàng hóa thay thế".
Tuy nhiên, trong trường hợp này:
+ Người mua đã không huỷ hợp đồng bằng mọi cách; thay vào đó, họ đã thúc giục người bán giao hàng ngay cả vào ngày 20 tháng 9 năm 1996;
+ Người mua đã mua "hàng hóa thay thế" trước khi huỷ hợp đồng;
+ Người mua có thể đã tìm thấy hàng hóa ở các tỉnh khác ở Trung Quốc có chất lượng tương đương với hàng hóa hợp đồng với giá cả hợp lý. Hơn nữa, người mua chưa bao giờ tuyên bố rằng hợp đồng bị vô hiệu hoặc huỷ bỏ hợp đồng và không thông báo cho người bán rằng họ mua "hàng hóa thay thế" khác loại so với hàng hóa theo hợp đồng. Nếu người mua đã thông báo cho người bán rằng họ sẽ mua hàng hóa ở mức bình thường từ Tây Ban Nha và sẽ yêu cầu chênh lệch giá nếu người bán không giao hàng đúng hạn, người bán sẽ cân nhắc lấy biện pháp hợp lý để giảm thiểu tổn thất. Mãi đến khi nhận được đơn xin trọng tài, người bán mới biết về "hàng hóa thay thế".
Cơ sở cho các yêu cầu bồi thường của bên mua là không hợp lý và tính toán thiệt hại là không hợp lý:
- Như đã nêu ở trên, người mua không cung cấp bằng chứng cho thấy hàng hóa được mua từ Tây Ban Nha sẽ được bán cho người mua lại theo Hợp đồng số 4499.
- Người mua không nên yêu cầu phí bảo hiểm, phí lưu trữ và phí tái chế từ người bán, mà nên tự chịu trách nhiệm;
- Người mua cáo buộc rằng họ đã mua hàng hóa từ Tây Ban Nha với chất lượng kém và phải bán chúng với giá chiết khấu 5%; do đó, người mua nên yêu cầu bồi thường từ nhà cung cấp Tây Ban Nha và không nên chuyển trách nhiệm sang người bán;
- Người mua đã tính toán tổn thất lợi nhuận dựa trên giá trong hợp đồng ban đầu, tức là 11,3 USD/thùng; tuy nhiên, người mua đã tăng giá lên 11,8 đô la Mỹ/thùng trong L/C, và cho đây là cơ sở để tính toán tổn thất lợi nhuận;
- Điều khoản giá trong hợp đồng ban đầu giữa người mua và người bán là CNF Hamburg; tuy nhiên, hàng hóa được mua từ Tây Ban Nha theo một điều khoản FOB Cacrtarna. Người mua đã tính chênh lệch giá mà không thay đổi thành điều khoản cùng giá, do đó, việc tính toán này là nhầm lẫn.
Người mua không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại ở mức độ rộng.
Vào ngày 1 tháng 11 năm 1994, người bán đã thông báo cho người mua rằng họ chỉ có thể cung cấp 09 container hàng hóa, tuy nhiên, vào ngày 18 tháng 11 năm 1994, người mua đã bán 40 container hàng cho khách hàng của mình, đó là một sai lầm phần lớn bởi người mua. Điều 22 của Luật Hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài và Điều 114 của các nguyên tắc chung của Luật Dân sự quy định rằng: "Một bên bị thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên kia nên có biện pháp hợp lý để giảm thiểu tổn thất, nếu không, họ sẽ mất quyền yêu cầu bồi thường". Người mua đã không có hành động hợp lý để giảm thiểu tổn thất; do đó, nó phải chịu toàn bộ tổn thất xảy ra.
Người bán không vi phạm Hợp đồng số 2 và không chịu trách nhiệm cho các tổn thất của bên mua theo hợp đồng này:
Sau khi ký kết Hợp đồng số 2, vì không có hàng hóa tại tỉnh Hồ Nam, người bán đã phải mua 02 container hàng hóa từ một tỉnh khác và thông báo cho người mua về việc cung cấp hàng hóa và chất lượng của hàng hóa qua fax và điện thoại, đặc biệt là khi người mua đang có mặt ở Hồ Nam, người bán đã thương lượng vấn đề này với người mua. Hai bên cuối cùng đã đồng ý rằng người bán chỉ cần giao 2 container hàng hóa. Sau khi giao những hàng hóa này, người bán đã hoàn thành nhưng không vi phạm Hợp đồng số 2; do đó, người bán không chịu trách nhiệm về các tổn thất của người mua.
3.3. Quan điểm của Trọng tài
(a) Về lý do bất khả kháng
Như đã nêu ở trên, hai bên không đồng ý về lý do không thực hiện hợp đồng. Người bán cáo buộc rằng việc không thực hiện hợp đồng là do những lý do không thể tránh khỏi và không thể kiểm soát được. Người mua không đồng ý với điều đó.
Dựa trên Điều 79 (1), (2), (3), (4) của CISG và điều khoản bất khả kháng trong hợp đồng, Tòa án Trọng tài quyết định rằng lý do bất khả kháng của Bên bán không được chấp nhận cho các điều sau đây lý do:
- Toà án Trọng tài đã kiểm tra toàn bộ tài liệu, đặc biệt là "Tóm tắt về thời tiết mùa hè ở tỉnh Hồ Nam năm 1994" do người bán đệ trình, trong đó chỉ ra rằng thời tiết ở tỉnh Hồ Nam đã trở nên bất thường từ tháng 4 và tháng 5 năm 1994; nói cách khác, thảm họa tự nhiên đã xảy ra trước khi ký kết hợp đồng. Do đó, người bán có thể thấy trước khả năng có thể không thực hiện được hợp đồng. Người bán có thể tiên đoán trước nhưng không tiên đoán và có thể tránh được nhưng không tránh; do đó, người bán không có quyền viện lý do bất khả kháng để tránh trách nhiệm;
- Người bán chưa bao giờ cung cấp bất kỳ bằng chứng hợp lệ nào cho thấy sự bất khả kháng trong toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng;
- Hai bên không quy định trong hợp đồng rằng hàng hóa hợp đồng phải là cam Hồ Nam; do đó, mặc dù đã có lũ lụt ở tỉnh Hồ Nam, nơi gây ra tình trạng khan hàng hoá là quýt đóng hộp, nhưng đó không phải là rào cản để người bán có được hàng hóa hợp đồng từ các tỉnh khác.
Do đó, Trọng tài không chấp nhận lý do bất khả kháng của bên bán. Người bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, điều này đã cấu thành vi phạm hợp đồng và người bán phải chịu trách nhiệm pháp lý.
b) Cơ sở để tính toán thiệt hại
i. Trọng tài đã kiểm tra và xác nhận bằng chứng được gửi bởi người mua về Hợp đồng số 4499 với Công ty Markant tại Hamburg. Về vấn đề này, Toà án Trọng tài cho rằng 02 hợp đồng giữa người mua và người bán có thể được kết nối với Hợp đồng số 4499 là hợp đồng giữa người mua và khách hàng của mình và người bán phải chịu trách nhiệm với người mua vì không có khả năng giao hàng cho khách hàng do vi phạm hợp đồng của người bán.
Tuy nhiên, dựa trên bằng chứng do người mua cung cấp, các hợp đồng mà người mua đã ký với Công ty C và Công ty P để mua cam Tây Ban Nha vào ngày 9 tháng 1 năm 1995 và ngày 24 tháng 2 năm 1995, không thể được kết nối với Hợp đồng số 4499 mà người mua đã ký với khách hàng của mình.
Do đó, Trọng tài không chấp nhận các lập luận của người mua rằng hai lô hàng mua từ Tây Ban Nha nói trên là hàng hóa thay thế và chúng phải là cơ sở để tính toán chênh lệch giá và mất lợi nhuận vì những lý do sau:
- Tên, thông số kỹ thuật, nguồn gốc và ngày sản xuất của hàng hóa trong Hợp đồng số 4605 mà người mua đã ký với Công ty C và Hợp đồng số 4679 mà người mua đã ký với Công ty P khác với Hợp đồng số 4499 mà Người mua đã ký với khách hàng của mình; do đó, chất lượng của hàng hóa không thể so sánh được;
- Số lượng hàng hóa theo hợp đồng nói trên khác với số lượng theo Hợp đồng số 4499. Chỉ có 40 container hàng hóa theo Hợp đồng số 4499, tức là, 40.000 thùng; tuy nhiên, người mua đã mua tổng cộng 55 container theo hai hợp đồng, đó là 63.250 thùng dựa trên các hợp đồng do người mua cung cấp, và vượt xa quy định theo Hợp đồng số 4499;
- Ngày giao hàng trong Hợp đồng số 4605 và Số 4679 khác với ngày giao hàng trong Hợp đồng số 4499. Ngày giao hàng theo Hợp đồng số 4499 là tháng 1 đến tháng 4 năm 1995 với 10 container/tháng, tức là 10.000 thùng. Ngày giao hàng theo Hợp đồng số 4605 là tháng 1 đến tháng 6 năm 1995 với 5 container/tháng; ngày giao hàng theo Hợp đồng số 4679 là tháng 3 ~ tháng 4 năm 1995 với số lượng trung bình/tháng.
Do đó, Trọng tài đã bác bỏ ý kiến cho rằng chúng nên là cơ sở để tính toán tổn thất chênh lệch giá và tổn thất lợi nhuận.
ii. Tuy nhiên, Trọng tài lưu ý rằng người bán vẫn phải chịu tổn thất chênh lệch giá do vi phạm hợp đồng.
Trọng tài nhận định rằng vào tháng 9 năm 1995, người bán đã chỉ ra rằng họ không thể giao hàng theo quy định trong hợp đồng, điều đó có nghĩa là họ đã yêu cầu đơn phương huỷ hợp đồng. Do đó, khoản chênh lệch giá phải được tính dựa trên giá thị trường tại Trung Quốc tại thời điểm đó.
Tuy nhiên, Trọng tài chưa bao giờ nhận được bất kỳ bằng chứng nào cho thấy giá thị trường của hàng hóa hợp đồng tại thời điểm đó, nhưng Trọng tài nhận thấy rằng ngày 1 tháng 11 năm 1995, người mua đã gửi thư cho người bán, đồng ý tăng giá cho hàng hóa lên 12,50 đô la Mỹ ~ 12,70 đô la Mỹ/thùng, C&F Hamburg. Trọng tài cho rằng mức giá này phải là mức giá chấp nhận được của người mua đối với cam đóng hộp tại thị trường Trung Quốc tại thời điểm đó. Dựa trên điều này, sẽ là hợp lý khi tính toán tổn thất chênh lệch giá dựa trên mức giá cao hơn được thỏa thuận bởi người mua, tức là, 12,70 USD/trường hợp C&F Hamburg, và điều này cũng hợp lý cho người bán.
c) Tính toán thiệt hại của người mua
- Đối với Hợp đồng số 1
Điều khoản giá theo Hợp đồng số 1 là 11,30 USD/thùng, C & F Hamburg. Sau đó, hai bên đã đồng ý tăng giá lên 11,8 USD/thùng và người mua đã sửa đổi L/C dựa trên giá này, điều này cho thấy rằng người mua đã chấp nhận thay đổi giá này đối với hàng hóa theo Hợp đồng số 1 từ 11,30 USD/thùng đến 11,80/thùng.
Người bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng này, điều này gây ra thiệt hại cho người mua. Điều 74 của CISG quy định rằng: "Các thiệt hại do vi phạm hợp đồng của một bên bao gồm một khoản tiền tương đương với tổn thất, bao gồm tổn thất lợi nhuận, mà bên kia phải chịu do hậu quả của việc vi phạm". Do đó, tổn thất của người mua sẽ được chia thành hai phần, tức là, khoản chênh lệch giá và mất cơ hội lợi nhuận.
+ Khoản chênh lệch giá giữa giá của hợp đồng 1 với giá thị trường:
Chênh lệch giá giữa giá 12,70 đô la Mỹ - giá các bên đã thoả thuận tại thời điểm giá thị trường tăng và giá theo hợp đồng trong trường hợp này, tức là, 11,8 đô la Mỹ, với số lượng đáng lẽ phải được giao. Cụ thể: 12,70 - 11,80 x 30.000 = 27.000 USD.
+ Khoản lợi nhuận đáng lẽ được hưởng:
Trọng tài cho rằng Hợp đồng số 4499 sử dụng đơn vị tiền tệ mác Đức (DM); do đó, chúng nên được sửa đổi thành giá bằng USD/thùng. Ngoài ra, thuế Hải quan và phí tái chế đã được bao gồm trong giá hợp đồng theo Hợp đồng số 4499, nên được khấu trừ vào lợi nhuận.
Khoản lợi nhuận/thùng = (Giá bằng đô la Mỹ/thùng theo Hợp đồng số 4499 - thuế hải quan - phí "tái chế") - 11,80 đô la Mỹ) x số lượng thùng cần được giao.
Trong đó: Giá theo DM/thùng: 0,56 DM/lon x 48 lon/thùng = 26,88 DM/ thùng (a); Thuế hải quan/thùng: Thuế suất hải quan là 22%, do đó, 26,88 DM x 0,22 = 5,9136 DM (b); Phí "tái chế" cho mỗi thùng: 1.762 DM (c)
- (b) + (c) = 5.9136 + 1.762 = 7.6756 DM (d)
- (a) - (d) = 26,88 DM - 7.6756 DM = 19.2044 DM (e)
Tỷ giá hối đoái vào tháng 9 năm 1994 là 1 đô la Mỹ = 1,5605 DM. Do đó, khoản thiệt hại = 19.2044 DM x 1.5605 DM/USD = 12,30 USD
Do đó, khoản lợi nhuận bị mất ở đây:
= (12,30 USD - 11,80 USD) x 30.000 = 15.000 USD.
- Khoản thiệt hại theo Hợp đồng số 2
Trọng tài đã kiểm tra thêm bằng chứng do hai bên đệ trình, phát hiện ra rằng sau khi ký kết Hợp đồng số 2, do thiếu nguồn cung ở tỉnh Hồ Nam, để thực hiện hợp đồng trong thời gian quy định, người bán tìm thấy nguồn cho một phần hàng hóa từ tỉnh Quảng Tây, tổng cộng 2.000 thùng. Hai bên đã thảo luận về số lượng hàng hóa thông qua thư và điện thoại.
Cụ thể, vào ngày 21 tháng 2 năm 1995, người bán đã gửi thư cho người mua, nói rằng “Chúng tôi đã cố gắng hết sức để có được 2.000 thùng cam quýt đóng hộp từ Quảng Tây... nếu bạn đồng ý với chúng tôi, vui lòng xác nhận trước ngày 20 tháng 2 năm 95; để chúng tôi có thể gửi chúng cho bạn kịp thời”. Người mua sau đó đã fax cho người bán vào ngày 3 tháng 3 năm 1995, hỏi người bán về số lượng hàng hóa có thể giao và vào ngày 6 tháng 3 năm 1995, người bán trả lời rằng họ chỉ có thể cung cấp 2.000 thùng hàng hóa và yêu cầu người mua sửa đổi L/C. Người mua đã trả lời vào ngày 6 tháng 3 năm 1995, cho rằng họ đã đồng ý sửa đổi L/C, cho biết rõ ràng “để không gặp rắc rối nào cho bạn khi gửi ít nhất 2.000 thùng hàng đó”;
Do đó, Trọng tài cho rằng hai bên đã đạt được thỏa thuận về số lượng hàng hóa sau khi người bán đưa ra yêu cầu như vậy; do đó, khẳng định của bên bán rằng không nên chịu trách nhiệm cho các thiệt hại của bên mua theo Hợp đồng số 2 là có thể chấp nhận được.
d) Các khoản phí khác
- Phí luật sư của người mua: Trọng tài cho rằng phí luật sư do người mua phải chịu là do vi phạm hợp đồng của Bên bán, do người bán chịu. Tuy nhiên, đối với số tiền cụ thể, theo Điều 59 của Quy tắc Trọng tài, 8% số tiền thắng của người mua là hợp lý, tức là, 3.360 đô la Mỹ. Người bán sẽ thanh toán số tiền nói trên cho người mua.
- Người mua phải chịu 30% phí trọng tài và người bán phải chịu 70%; - Hai bên phải tự trả các chi phí phát sinh khác để phục vụ vụ kiện.
Phán quyết của Trọng tài
Trọng tài đã phán quyết rằng:
- Người bán sẽ phải trả khoản lỗ chênh lệch giá 27.000 đô la Mỹ và khoản thiệt hại do mất cơ hội lợi nhuận là 15.000 đô la Mỹ cho người mua;
- Người bán sẽ trả phí luật sư của người mua cho trường hợp này là 3.360 USD;
- Các khiếu nại trọng tài khác của người mua bị bác bỏ;
- Người mua sẽ chịu 30% phí trọng tài và người bán sẽ chịu 70%;
- Chi phí thực tế phát sinh bởi các trọng tài viên không phải là người địa phương sẽ do hai bên tự chịu;
Người bán sẽ thanh toán các khoản mục 1, 2 và 4 nêu trên trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận quyết định này, nếu không sẽ phải chịu 8% tiền lãi hàng năm.
*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 39, 46, 74, 75 và 79 CISG.
“Ðiều 39
1. Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu người mua không thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó.
2. Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng.”
“Ðiều 46
1. Người mua có thể yêu cầu người bán phải thực hiện nghĩa vụ, trừ phi người mua sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý không hợp với yêu cầu đó.
2. Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể đòi người bán phải giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng và yêu cầu về việc thay thế hàng phải được đặt ra cùng một lúc với việc thông báo những dữ kiện chiếu theo điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau đó.
3. Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, người mua có quyền đòi người bán phải loại trừ sự không phù hợp ấy, trừ những trường hợp khi điều này không hợp lý xét theo tất cả các tình tiết. Việc yêu cầu loại trừ sự không phù hợp của hàng hóa so với hợp đồng phải được tiến hành hoặc là cùng một lúc với thông báo những dữ kiện chiếu theo điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau đó.”
“Ðiều 74
Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết.
“Ðiều 75
Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán hàng lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo Điều 74.”
“Ðiều 79
1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó.
2. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp:
a. Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên, và.
b. Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của khoản trên được áp dụng cho họ.
3. Sự miễn trách được quy định tại điều này chỉ có hiệu lực trong thời kỳ tồn tại trở ngại đó.
4. Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo.
5. Các sự quy định của điều này không cản trở từng bên được sử dụng mọi quyền khác ngoài quyền được bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.”