Tổng hợp 10 bản án hủy, sửa về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là vật liệu xây dựng
MỤC LỤC
1. Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2024/KDTM-PT ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung hủy án:
(i) Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn Công ty V1 ủy quyền cho ông Huỳnh Minh Đ theo văn bản ủy quyền ngày 08/12/2023 với nội dung ủy quyền là thay mặt Công ty V1 tham gia phiên họp ngày 11/12/2023 theo Thông báo số 289/QĐST-DS ngày 24/11/2023; thời hạn ủy quyền đến khi kết thúc phiên họp ngày 11/12/2023. Sau khi kết thúc phiên họp ngày 11/12/2023, Công ty V1 không có nộp văn bản ủy quyền nào khác để ủy quyền cho ông Huỳnh Minh Đ tiếp tục tham gia tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 25/3/2024 người đại diện theo pháp luật của Công ty V1 là ông Phạm Đức T không có mặt cũng không có văn bản ủy quyền cho ông Huỳnh Minh Đ tham gia phiên tòa nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận cho ông Huỳnh Minh Đ tham gia phiên tòa với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của Công ty V1 và tiến hành xét xử vụ án.
Theo đơn kháng cáo của Công ty V1 và tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của Công ty V1 trình bày ông Phạm Đức T không được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập để tham gia phiên tòa và cũng không ủy quyền cho ông Huỳnh Minh Đ tham gia phiên tòa. Xét thấy, việc cấp sơ thẩm chấp nhận cho ông Huỳnh Minh Đ tham gia phiên tòa với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của Công ty V1 trong khi văn bản ủy quyền ngày 08/12/2023 đã hết thời hạn và chưa có văn bản ủy quyền khác thay thế là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, sai sót này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.
Bản án sơ thẩm bị hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên cấp phúc thẩm không xem xét nội dung vụ án.
(ii) Ngoài ra, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn mà nguyên đơn cung cấp thể hiện tên công ty được viết là “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V”, viết tắt là “C”. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn là “Công ty trách nhiệm hữu hạn V” là chưa đầy đủ tên đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Công ty V cũng xác định tên đầy đủ của Công ty V là “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V”. Do đó, cấp phúc thẩm có điều chỉnh tên đương sự cho chính xác.
2. Bản án phúc thẩm số 06/2023/KDTM-PT ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung hủy án:
(i) Về việc xác định tư cách đương sự của cấp sơ thẩm: TAND thị xã C từ khi tiến hành thụ lý, hòa giải, xét xử và tuyên án đều xác định sai tư cách tố tụng của nguyên đơn: Doanh nghiệp tư nhân thương mại và gia công ML do bà Nguyễn Thị Kim L là chủ doanh nghiệp nên theo quy định tại khoản 3 điều 190 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Chủ doanh nghiệp tư nhân là …, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước .. Tòa án” thì bà L tham gia vụ án dân sự với tư cách là nguyên đơn nhưng TAND thị xã C xác định Doanh nghiệp tư nhân thương mại và gia công ML là vi phạm nghiêm trọng quy định khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.
Việc mua bán hàng hóa giữa Doanh nghiệp ML với Công Ty KN đều do bà V và bà H đứng ra đại diện giao dịch nhưng bản án sơ thẩm xác định bà V là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn bà H thì không tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đồng thời việc giao nhận hàng được thực hiện giữa ông N2 với ông N1, do vậy cần xác định ông N2 và ông N1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng tòa sơ thẩm xác định người làm chứng là không đúng.
(ii) Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc mua bán theo tập quán của các thương nhân, đúng theo quy định của luật thương mại nên nếu nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ giao hàng cụ thể là nghĩa vụ giao vật 4.346,5kg thép phi 8 và nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao vật nhưng tại phiên tòa sơ thẩm thay đổi thành yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng không có thỏa thuận nếu bên bị đơn không giao hàng thì sẽ hoàn trả tiền, điều này đã được phía nguyên đơn thừa nhận tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết. Đồng thời, hàng hóa mua bán không phải là vật đặc định nên nếu Tòa án cho rằng bị đơn bị phạm nghĩa vụ giao vật thì cần buộc bị đơn giao vật theo thỏa thuận, việc tuyên buộc bị đơn hoàn trả tiền là vượt quá thỏa thuận của đương sự và vượt quá yêu cầu khởi kiện.
(iii) Nguyên đơn khởi kiện cho rằng việc giao nhận hàng được tiến hành tại DNTN ĐTL, “khi DN ML gửi phiếu bán hàng ngày 08/11/2021 cho công ty KN và cho xe đến kho của DNTN ĐTL nhận hàng như thường lệ thì phía công ty KN cố tình không giao hàng” nhưng tại đơn khởi kiện nguyên đơn cho rằng: “ngày 14/11/2021 công ty Mười lợi cho xe đến địa điểm nhận hàng tại huyện C” là có sự mâu thuẫn”. Theo quy định tại điều 6, điều 91 BLTTDS năm 2015 nguyên đơn khởi kiện thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, khi khởi khởi kiện nguyên đơn trình bày như trên nhưng tòa sơ thẩm không yêu cầu cung cấp chứng cứ chứng minh, giải thích sự mâu thuẫn mà ngược lại việc nguyên đơn khai có “đến huyện C nhận hàng” phù hợp với lời khai bị đơn thì tình tiết này được xem là sự thật không phải chứng minh nhưng tòa sơ thẩm vẫn yêu cầu bị đơn chứng minh là vi phạm nghiêm trọng tố tụng về nghĩa vụ chứng minh.
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn liệt kê ra 8 đơn hàng hai bên đã giao nhận đủ hàng và không tranh chấp, bản án sơ thẩm nhận định có 3 trong 8 đơn hàng trên có chữ ký nhận hàng và cho rằng đơn hàng ngày 08/11/2021 không có chữ ký nhận hàng để lập luận cho rằng bị đơn chưa giao hàng là nhận định thiếu khách quan, không có cơ sở. Trong khi đó, bị đơn có đến 5 trong 8 đơn hàng không có chữ ký nhận hàng nhưng nguyên đơn đều cho rằng đã nhận đủ hàng.
(iv) Về chứng cứ dữ liệu điện tử là thiết bị giám sát hành trình, bị đơn nghi ngờ việc nguyên đơn có tình cung cấp chứng cứ không đúng sự thật nên có yêu cầu tòa án buộc nguyên đơn cung cấp hành trình của xe 54Y-2507 cũng như các xe khác để chứng minh bên nguyên đơn “có cho xe đến C” nhận hàng nhưng tòa án sơ thẩm không yêu cầu nguyên đơn thực hiện, từ đó yêu cầu cơ quan giám định tính nguyên vẹn của chứng cứ mà ngược lại đưa ra lập luận thiếu khách quan cho rằng lời trình bày của bị đơn không có căn cứ. Việc sử dụng tài liệu do Công ty Ánh Dương cung cấp cho rằng dữ liệu điện tử đảm bảo tính nguyên vẹn mà không phải cơ quan giám định là vi phạm nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ.
Đơn hàng ngày 08/11/2021 và đơn hàng ngày 15/11/2021 có nội dung giống nhau chứ không phải là một đơn hàng nhưng bản án sơ thẩm nhận định “có đủ cơ sở để xác định số lượng, chủng loại hàng tại phiếu bán hàng ngày 15/11/2021 và số lượng, chủng loại phiếu bán hàng ngày 08/11/2021 là một” là không khách quan. Bởi lẽ đơn hàng ngày 08/11/2021 bị đơn cho rằng đã giao hàng cho nguyên đơn và nguyên đơn cũng thừa nhận có đến C để nhận hàng nhưng bị đơn từ chối giao, nhưng sau đó lại cho rằng tất cả các đơn hàng đều nhận tại Công Ty ĐTL ở ĐX tức có sự mâu thuẫn lớn, chứng cứ là dữ liệu giám sát hành trình nguyên đơn không cung cấp và tòa án không buộc nguyên đơn cung cấp để giám định tính nguyên vẹn của dữ liệu điện tử mà chỉ nhận định nguyên đơn khởi kiện có căn cứ là chưa đảm bảo tính khách quan.
Do việc mua bán giữa công ty KN và doanh nghiệp ML đều thông qua zalo giữa bà H và bà V mà không có hợp đồng ký kết giữa hai bên, do vậy cách thức mua hàng, báo giá và quy trình nhận hàng đều qua thỏa thuận tin nhắn zalo giữa bà H với bà V. Tuy nhiên tin nhắn zalo giữa hai bà có sự mẫu thuẫn và chưa thống nhất về nội dung. Cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất giữa bà H và bà V để làm rõ nội dung liên quan đến thỏa thuận cách thức mua hàng, báo giá và quy trình nhận hàng quy định thế nào để làm căn cứ giải quyết vụ án là thiếu sót.
Đồng thời, theo quy định tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000 đồng, tuy nhiên Cấp sơ thẩm thu tiền tạm ứng của người kháng cáo là 300.000 đồng. Do vậy, Cấp sơ thẩm sai sót trong việc thu tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
(v) Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án không đầy đủ dẫn đến việc giải quyết vụ án không triệt để, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được vì vậy cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên kháng cáo của bị đơn Công ty KN được chấp nhận.
3. Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2021/KDTM-PT ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung hủy án:
(i) Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, thực hiện việc tống đạt, hòa giải và kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm các thủ tục tố tụng này là không có căn cứ. Tuy nhiên, bị đơn có yêu cầu phản tố cho rằng giao dịch thực chất giữa hai bên là vay nợ, nguyên đơn cho bị đơn vay và bị đơn đã trả rất nhiều tiền lãi vay cho nguyên đơn, nhưng cuối đơn phản tố bị đơn lại yêu cầu nguyên đơn hoàn trả số tiền lãi đã nhận 108.953.697đ từ các hợp đồng mua bán hàng hóa mà hai bên ký kết. Như vậy, nội dung đơn phản tố và yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa thống nhất, cấp sơ thẩm cần yêu cầu bị đơn sửa đơn phản tố để từ đó thụ lý giải quyết thêm quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản thì mới chính xác.
(ii) Xét thấy, căn cứ vào các hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa mà hai bên giao kết, biên bản giao nhận hàng xác lập giữa hai bên, thư xác nhận số dư ngày 09/9/2019, biên bản làm việc ngày 14/3/2019, công văn ngày 06/5/2016 thì Công ty Thép V đều xác nhận còn nợ tiền hàng của nguyên đơn; văn bản xác nhận công nợ, biên bản đối chiếu số nợ phải thu, các bản kê chứng từ, các biên bản xác nhận lãi chậm trả phát sinh đều có xác nhận của bị đơn thừa nhận còn nợ đúng với số tiền mà nguyên đơn khởi kiện; 03 hóa đơn do nguyên đơn xuất cho bị đơn cũng đã được bị đơn kê khai thuế đầu vào năm 2016 (theo xác nhận tại Công văn số 451 ngày 24/02/2020 của Cục thuế tỉnh Long An). Với các chứng cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ.
(iii) Tuy nhiên, tại phần đầu bản án sơ thẩm (bản án gốc, trang 1) ghi thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa là ông Đỗ Bình A; các Hội thẩm nhân dân là bà Trần Thị Đ và ông Nguyễn Thanh H nhưng phần quyết định bản án này lại ghi sai tên Hội thẩm từ “Trần Thị Đ thành Nguyễn Thị R” và bà Nguyễn Thị R ký tên; còn phần đầu và phần quyết định của biên bản nghị án đều ghi tên Hội thẩm là bà Nguyễn Thị R và ký tên; phần đầu của biên bản phiên tòa cũng ghi tên Hội thẩm là bà Nguyễn Thị R. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã sai sót trong việc ghi tên Hội thẩm như trên nên không xác định được Hội thẩm “Trần Thị Đ” hay “Nguyễn Thị R” tham gia xét xử, đây là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cần phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung như ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
4. Bản án dân sự phúc thẩm số 466/2020/KDTM-PT ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung hủy án:
(i) Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, phía bị đơn yêu cầu giám định chất lượng 918,5m3 bê tông của các ngày 09/12/2015, 10/12/2015, 12/12/2015 và ngày 15/12/2015. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định khối lượng bê tông 918,5m3 của các ngày nói trên tại Công ty Cổ phần kiểm định xây dựng Sài Gòn (Theo Quyết định trưng cầu giám định số 09/2017/QĐ-TCGĐ ngày 12/7/2017) và tại Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 (Theo Quyết định trưng cầu giám định số 19/2018/QĐ-TCGĐ ngày 25/7/2018). Tuy nhiên, vẫn chưa thống nhất đề cương giám định thì cấp sơ thẩm lại mở phiên tòa xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn. Lẽ ra, cần phải có kết quả giám định về chất lượng bê tông mà phía bị đơn khiếu nại cũng như cần xác định có hay không những thiệt hại mà phía Công ty TT phải chịu do việc Công ty NT giao hàng không đúng chất lượng. Tư đó mới có thể xem xét yêu cầu của các bên một cách toàn diện được. Nay, tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn lại tiếp tục yêu cầu trưng cầu giám định chất lượng bê tông mà nguyên đơn giao vào các ngày 9/12/2015, 10/12/2015, 12/12/2015 và ngày 15/12/2015. Căn cứ khoản 3 Điều 3 Hợp đồng kinh tế số 107-15/HĐKT-NT ngày 07/10/2015 qui định: Trường hợp chất lượng bê tông không đạt yêu cầu “Trách nhiệm tối đa của Bên B (Công ty NT) là bồi hoàn chi phí bê tông, cốt thép, cốt pha và nhân công đập phá đối với phần ảnh hưởng bởi bê tông không đạt chất lượng”. Đồng thời, căn cứ Điều 444 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 40, 41 Luật Thương mại năm 2005 quy định trách nhiệm của bên bán là phải đảm bảo giao hàng đúng chất lượng như đã thỏa thuận, bồi thường thiệt hại nếu có. Vì vậy, tại phiên tòa hôm nay, đại diện bị đơn tiêp tục yêu cầu trưng cầu giám định về thiệt hại, chi phí tháo dỡ của khối bê tông không đạt chất lượng là có cơ sở. Do đó, cần thiết phải cho trưng cầu giám định mới có đầy đủ căn cứ xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn.
(ii) Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HCM đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên ghi nhận.
5. Bản án dân phúc thẩm số 37/2018/KDTM-PT ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Nội dung hủy án:
(i) Nguyên đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại là chi phí khắc phục hậu quả từ việc bị đơn cung cấp sản phẩm sơn, bột trét kém chất lượng với số tiền 14.181.721.488 đồng. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng không vi phạm chất lượng hàng hóa mà do nhà thầu thi công không đúng quy trình kỹ thuật dẫn đến những thiệt hại chất lượng bột trét bị vỡ, bong tróc, bột mềm, độ bám dính của bột và sơn không đạt yêu cầu.
Xét Thông báo số 184/TB-TDC ngày 22/02/2013 do Công ty B gửi cho Công ty Sơn Dầu Khí với nội dung căn cứ thông báo qua kiểm tra tình hình thi công thực tế tại công trình nhà ở an sinh xã hội Becamex đối với các khu Việt Sing tại Block nhà A2-1, A2-2, A2-4, A2-5, A2-6, A5-2, A5-3; khu M tại Block nhà A1-1, A1-2, A2-1 A1-3, A1-4& A1-5 và khu H tại Block nhà A2 & A5 thì chất lượng bột trét: vỡ, bong tróc, bột mềm, độ bám dính của bột và sơn không đạt yêu cầu. Chất lượng sơn: Độ phủ màu không đạt yêu cầu, bị bong tróc, độ bám dính không đạt yêu cầu. Yêu cầu nhà cung cấp sơn và bột trét chịu toàn bộ chi phí khắc phục (nhân công và vật tư) cho toàn bộ khối lượng thi công không đạt yêu cầu ở 3 khu nhà nói trên. Ngày 27/2/2013, Công ty Sơn Dầu Khí có Công văn số 14/2013/CV/PVPAINT-KD ngày 27/2/2013 (bút lục 937 – 938) để phúc đáp lại Thông báo số 184/TB-TDC nêu trên với nội dung căn cứ vào tình hình thực tế tại các công trình, Công ty Sơn Dầu Khí kiến nghị, đề nghị như sau:
- Các block đã bả bột trét nhưng chưa sơn, tiến hành sơn lót cho cả phần tường ngoài nhà và trong nhà với lượng nước pha trộn thêm từ 20 đến 25% (do bột bả này đã thi công quá trời gian tối ưu (thời gian tối ưu là từ 1 đến 3 ngày) để thi công sơn lót nên đã bị chai/cứng) sau đó mới tiến hành sơn phủ 2 lớp.
- Các block đã sơn phủ hoàn thành, Công ty Sơn Dầu Khí sẽ thực hiện việc sửa chữa, bảo hành bằng chi phí của Công ty Sơn Dầu Khí sao cho đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ, kỷ thuật và không ảnh hưởng xấu đến môi trường.
- Đề nghị sử dụng sơn lót cho cả phần tường trong nhà để tránh lớp bả bị mềm hóa sau một thời gian thi công và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực khác đến lớp sơn phủ;
- Tiếp tục cùng Công ty Sơn Dầu Khí tổ chức thêm các buổi semina phổ biến kỹ thuật thi công bột bả và sơn nước tại các công trường;
- Phối hợp với Công ty Sơn Dầu Khí quản lý chặt chẽ hơn nữa công tác giám sát thi công;
- Sử dụng bột trét Semax Putty 1 và Semax Putty 2 có chất lượng tốt và ổn định hơn thay thế bột trét Solux đã sử dụng.
Vì vậy, qua các văn bản nêu trên có cơ sở xác định Công ty Sơn Dầu Khí có vi phạm hợp đồng về chất lượng bột trét và sơn nên có yêu cầu sửa chữa, bảo hành, thậm chí xin đổi sản phẩm bột trét khác tốt hơn bột trét Solux đã sử dụng. Đồng thời, cũng thể hiện Công ty Sơn Dầu Khí có kiến nghị về công tác thi công không đúng quy trình, không sơn lót. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không đối chất giữa các đương sự để làm rõ nội dung hai văn bản trên, không yêu cầu các đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh vị trí, số lượng tường bị hư hỏng mà bị đơn đã đề nghị sửa chữa bảo hành, làm rõ vì sao bị đơn có kiến nghị về công tác thi công không đúng quy trình mà cho rằng nguyên đơn không chứng minh được Công ty Sơn Dầu Khí vi phạm hợp đồng, không chứng minh được thiệt hại xảy ra là do lỗi của Công ty Sơn Dầu Khí từ đó không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thu thập chứng cứ không đầy đủ và đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bản án phúc thẩm số 10/2017/KDTM-PT ngày 31/3/2017 đã yêu cầu phải làm rõ thời gian đông kết của sản phẩm bột trét tường có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sơn bong tróc hay do lỗi của đơn vị thi công không thực hiện đúng quy trình dẫn đến việc sơn bị bong tróc và phải xác định thiệt hại trên thực tế, cấp sơ thẩm vẫn chưa thực hiện được nhưng vẫn giải quyết không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp. Vì vậy, nguyên đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện các chứng cứ, gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích của nguyên đơn là có căn cứ.
(ii) Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chủ đầu tư Tổng Công ty Đô thị và phát triển công nghiệp TNHH một thành viên (Công ty B1) và đơn vị giám sát thi công vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền nghĩa vụ liên quan để đối chất, thu thập chứng cứ làm rõ quá trình giám sát thi công thì việc sơn, bột trét được thực hiện đúng quy trình hay không, thu thập nhật ký công trình, nhật ký thi công để làm rõ việc giám sát nghiệm thu từng giai đoạn có xảy ra hiện tượng sơn bị bong tróc hay đạt yêu cầu, khi xảy ra hư hỏng thì Công ty B có phiếu yêu cầu sửa chữa những gì để xác định thiệt hại trên thực tế nếu có. Bởi lẽ, tại Điều 6, 7, 8 và 9 của các hợp đồng xây dựng ký kết giữa Công ty B và Công ty Cổ phần Kinh doanh và Phát triển B các bên có thỏa thuận Công ty B cử giám sát thi công thường xuyên có mặt tại hiện trường để giám sát chất lượng công trình, xác nhận khối lượng công tác thực hiện và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh nếu có; tổ chức nghiệm thu từng giai đoạn, nghiệm thu chuyển bước kỹ thuật, việc nghiệm thu khối lượng căn cứ vào bản vẽ thiết kế được phê duyệt và thực tế thi công tại công trường có xác nhận của tư vấn giám sát. Công ty B có trách nhiệm lập sổ nhật ký công trình, nhật ký thi công ghi chép đầy đủ các diễn biến xảy ra trong quá trình thi công theo quy định và được xác nhận của tư vấn giám sát hàng ngày; lập Bảng tiến độ thi công chi tiết từng ngày có sự kiểm tra thực hiện của Công ty B. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, không thu thập đầy đủ các chứng cứ nêu trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
(iii) Theo Điều 5.2 của Hợp đồng mua bán số 27/2012/TDC-PV PAINT ngày 27/08/2012 nguyên đơn, bị đơn có thỏa thuận trách nhiệm của Công ty B sử dụng sản phẩm đúng hướng dẫn sử dụng trên bao bì sản phẩm hoặc theo tài liệu kỹ thuật hướng dẫn sử dụng do Công ty Sơn Dầu Khí cung cấp. Công ty Sơn Dầu Khí cử cán bộ kỹ thuật đến công trường hướng dẫn kỹ thuật cho Công ty B. Nếu Công ty B sử dụng sai hướng dẫn của Công ty Sơn Dầu Khí thì Công ty B hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các Biên bản kiểm soát quy trình và dịch vụ kỹ thuật từ ngày 10/12/2012 đến ngày 02/01/2013 tại khu nhà ở an sinh xã hội M (bút lục 150-180) và Biên bản kiểm tra chất lượng sơn tại khu nhà ở an sinh xã hội H từ ngày 15/8/2012 đến ngày 21/10/2012 (bút lục 403-419) để chứng minh toàn bộ chất lượng sơn và bột trét do Công ty Sơn Dầu Khí xuất bán khi thi công thực tế đạt chất lượng. Xét chứng cứ này không phù hợp hoàn toàn với thời gian thực tế giao nhận hàng hóa được các bên thừa nhận là từ ngày 13/9/2012 đến ngày 4/3/2013. Các biên bản này không nêu rõ khối lượng sơn thực tế thi công đạt chất lượng, không rõ người ký tên giám sát bên chủ đầu tư và bên thi công là ai, vẫn còn thiếu những Biên bản kiểm soát quy trình dịch vụ kỹ thuật và Biên bản kiểm tra chất lượng sơn trong thời gian thi công còn lại và thiếu các Biên bản kiểm soát quy trình dịch vụ kỹ thuật đối với hai khu nhà ở an sinh xã hội H và khu Việt Sing. Vì vậy, cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa làm rõ chứng cứ thu thập được đối với những người ký người ký tên giám sát bên chủ đầu tư và bên thi công về quy trình sơn có đạt yêu cầu hay không và đối chất làm rõ mâu thuẫn giữa chứng cứ thu thập được với lời khai của các bên đương sự trong vụ án. Mặc khác, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm việc với cán bộ kỹ thuật do Công ty Sơn Dầu Khí cử đến hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát quy trình và dịch vụ kỹ thuật để từ đó đối chất với tất cả các đương sự trong vụ án làm rõ số khối lượng công trình thực tế thi công, phần khối lượng công trình nào được chủ đầu tư xác nhận đạt hoặc hư hỏng, mức độ hư hỏng cụ thể nếu có để làm căn cứ giải quyết vụ án. Đồng thời, sau khi thu thập đầy đủ tất cả biên bản kiểm soát quy trình thì cũng cần giám định xem quy trình sơn như vậy có làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình đã sơn hay không.
(iv) Theo Văn bản số 0407/KT3-N6 ngày 26/01/2018 của Trung tâm 3 trả lời có nội dung: Ngoài yếu tố vật liệu sử dụng thi công, các yếu tố khác có khả năng gây ảnh hưởng đến nguyên nhân gây bong tróc, nứt nẻ của lớp sơn tường là chất lượng của công tác thi công sơn phủ và chất lượng của lớp vật liệu nền tại thời điểm thi công công trình (năm 2012-2013) và các yếu tố này cũng không đủ cơ sở để đánh giá tại thời điểm yêu cầu giám định. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa thu thập làm rõ chứng cứ về quy trình sơn trong đó có việc sơn phủ, chưa làm rõ làm rõ có hay không việc Công ty B yêu cầu bỏ qua công tác sơn lót (tức sơn phủ) theo như Biên bản cuộc họp ngày 17/10/2012 giữa lãnh đạo Công ty B với lãnh đạo Công ty Sơn Dầu Khí và khuyến cáo tại công văn số 105/2012/CV/PV PAINT ngày 25/10/2012 của Công ty Sơn Dầu Khí và chưa thu thập các biên bản nghiệm thu từng giai đoạn trong đó có nghiệm thu giai đoạn hoàn thiện tô tường, vệ sinh bề mặt tường, cột, dầm, trần được bàn giao thế nào để chuẩn bị cho giai đoạn sơn nhưng cấp sơ thẩm vẫn khẳng định không có cơ sở pháp lý cho việc giám định là không phù hợp.
(iv) Tại các Biên bản tường trình của Công ty T, Công ty M, Công ty N và Công ty T đều trình bày nội dung tương tự nhau và yêu cầu vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án như sau: Các công ty này đã thực hiện đúng hợp đồng, thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật của cán bộ giám sát do Công ty Sơn Dầu Khí cử ra. Hợp đồng đã thực hiện xong, nghiệm thu và thanh toán. Sau khi nhận được yêu cầu của Công ty B về việc khảo sát và kiểm tra lại công tác sơn nước công trình, có đo đạc thực tế và lập dự toán để hai bên ký phụ lục hợp đồng xử lý phần matic (bột trét tường) và sơn nước không đạt chất lượng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập các Biên bản đo đạc thực tế phần sơn nước bị hư hỏng do các công ty trên lập, xem biên bản này có sự xác nhận của đơn vị giám sát, chủ đầu tư, đơn vị cung cấp sơn hay không, mô tả cụ thể số lượng, vị trí sơn bị hư hỏng làm căn cứ để đối chiếu với các chứng cứ khác thu thập được trong vụ án để làm rõ thiệt hại thực tế nếu có. Do cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của các công ty trên nên đã không đối chất làm rõ được sự mâu thuẫn giữa diện tích thi công bột bả khi sử dụng hết 9.076 bao bột trét (40kg/bao) tương đương 363.040 kg để thực hiện thi công theo hướng dẫn của Công ty Sơn Dầu Khí thì diện tích thi công được là từ 363.040m2 đến 605.066m2 trong khi diện tích tường nguyên đơn hợp đồng với các công ty sửa chữa là 294.453.m2 từ đó bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
Từ những cơ sở nhận định nêu trên, xét Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do vậy, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Ý kiến của đại diện nguyên đơn, đại diện bị đơn là không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa phù hợp pháp luật vì theo Điều 96, 99, 100 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trường hợp tài liệu chứng cứ đã được giao nộp chưa đảm bảo đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung, lấy lời khai người làm chứng, đối chất để làm rõ những mâu thuẩn trong vụ án. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là chưa phù hợp.
6. Bản án dân sự phúc thẩm số 288/2018/KDTM-PT ngày 19/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung hủy án:
Về yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi chậm trả: Như trên đã phân tích, Tòa án chỉ xem xét, giải quyết yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trong thời hiệu khởi kiện, tức là khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/12/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (17/10/2017). Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường (15,65%/năm) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật thương mại 2005. Căn cứ vào “Bảng tính tiền gốc tiền hàng năm 2012” đã được các bên thống nhất xác nhận tại phiên tòa phúc thẩm, số tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc trong thời gian từ ngày 21/12/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (17/10/2017) (theo mức lãi suất 15,65%/năm) là: 1.147.288.954 đồng.
Như vậy, kháng cáo của bị đơn chỉ có căn cứ để được chấp nhận một phần, cần hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản nợ gốc (do có tình tiết mới) và khoản tiền lãi phát sinh trước ngày 21/12/2014 (do đã hết thời hiệu khởi kiện), còn phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/12/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm 17/10/2017 thì cần giữ nguyên.
7. Bản án dân sự phúc thẩm số 115/2024/KDTM-PT ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung sửa án:
Tại phần quyết định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm có nội dung: “Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì bên phải thi hành án phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án”.
Quyết định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm về phần lãi suất chậm thi hành án là không đúng với hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Để đảm bảo thi hành án, xét thấy cần sửa một phầnbản án kinh doanh thương mại sơ thẩm về phần lãi suất chậm thi hành án như sau: “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án”.
8. Bản án dân sự phúc thẩm số 253/2023/KDTM-PT ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung sửa án:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2022, Công ty thép H có đề nghị Công ty A phải thanh toán số tiền phạt chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty H không yêu cầu phải thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không quyết định đình chỉ xét xử đối với yêu cầu thanh toán số tiền phạt chậm thanh toán là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.
Căn cứ phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty A, sửa một phần bản án sơ thẩm.
9. Bản án dân sự phúc thẩm số 01/2023/KDTM-PT ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.
Nội dung sửa án:
Mặt khác, Doanh nghiệp tư nhân N khởi kiện thì cần xác định nguyên đơn là ông Nguyễn Đức V - Chủ Doanh nghiệp tư nhân N theo quy định tại khoản 3 Điều 190 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022). Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn là ông Nguyễn Đức V – sinh năm 1960, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân N là chưa chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/KDTM-ST ngày 21/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình về cách tuyên án cho rõ ràng, chính xác, thuận tiện trong quá trình thi hành án.
10. Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2023/KDTM-PT ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum về tranh chấp hợp đồng mua bán vật tư.
Nội dung sửa án:
(i) Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Chiến T HĐXX xét thấy: Giữa Công ty cổ phần Chiến T và công ty Thiện Long Nha T đều thừa nhận hai bên ký kết với nhau hợp đồng số 0504/2019/HĐMB-CT-TLNT ngày 16/4/2019 về việc “Cung cấp bê tông thương phẩm và vật tư, vật liệu xây dựng” (Sau đây viết tắt: Hợp đồng cung cấp vật tư /Hợp đồng 0504) và hợp đồng số 2707/2019/HĐMB-VGL-TL ngày 27/7/2019 về việc “Cung cấp vật liệu cho công trình Vincom”. Hai bên không tranh chấp Hợp đồng số 2707, mà chỉ tranh chấp hợp đồng 0504 thể hiện trong các văn bản ý kiến của các bên và tại biên bản phiên tòa ngày 07/4/2023. Do đó, HĐXX xem xét tính hợp pháp của hợp đồng số 0504 là hợp đồng phát sinh tranh chấp của các bên.
(ii) Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện Công ty Chiến T giải thích bên công ty không tách giá trị hai hợp mà tính chung giá trị 02 hợp đồng 2707 và hợp đồng số 0504 tổng giá trị là 11.876.023.499 đồng, về phía công ty Thiện Long Nha T cho rằng công ty đã trả tổng số tiền 11.402.267.500 đồng cho giá trị của cả hai hợp đồng nêu trên, số tiền còn nợ lại theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/4/2021 là 503.755.999 đồng (Bút lục số 1557, 1558), công ty Thiện L không đồng ý số tiền nợ này với lý do, giá trị hợp đồng số 0504 số tiền là 10.212.092.500 đồng, Thiện L đã thanh toán cho Chiến T 10.477.000.000 đồng (Bút lục số 2730), thanh toán vượt (dư) số tiền là 264.907.500 đồng thể hiện qua 22 lần chuyển khoản và số tiền 503.755.999 đồng là tiền chênh lệch giá bê tông thương phẩm do bên Chiến T tự tăng giá không thông báo cho bên Thiện L, không tuân thủ theo Điều 1 và Điều 7 của Hợp đồng:“Trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có những biến động về giá nguyên vật liệu,…và bê tông thương phẩm sẽ được hai bên thoả thuận điều chỉnh bằng văn bản hoặc phụ lục bằng hợp đồng”. Về nội dung này công ty Chiến T cho rằng ngày 22/5/2019 công ty Chiến Thắng đã gửi công văn số 19/CV-VGLK ngày 22/05/2019 (Sau đây viết tắt là Công văn số 19), trong đó có nội dung công ty cổ phần Chiến T tăng bản giá một số chủng loại trong đó có giá bê tông thương phẩm áp dụng từ ngày 02/5/2019 qua Email: bch.thienlong.kontum@gmail.com (Bút lục số 1555). Công ty Thiện Long Nha T khẳng định công ty chưa nhận được Công văn số 19, Email: bch.thienlong.kontum@gmail.com công ty không sử dụng mà chỉ sử dụng Email: kttvthienlong@gmail.com thể hiện qua 01 vi bằng đã cung cấp cho tòa án.
(iii) Căn cứ tài liệu có trong Hồ sơ vụ án HĐXX thấy rằng, tại các biên bản đối chiếu công nợ đối với hợp đồng số 0504 giữa công ty Chiến T và công ty Thiện Long Nha T có xác nhận của giám đốc hai bên về số tiền thanh toán và số tiền nợ vào các ngày như sau: Ngày 31/5/2019 (Bút lục số 1453) ngày 30/6/2019 (Bút lục số 1454); ngày 31/7/2019 (Bút lục số 1446); ngày 31/8/2019 (Bút lục số 1439); ngày 30/9/2019 (Bút lục số 1449); ngày 31/10/2019 (Bút lục số 1443); ngày 30/11/2019 (Bút lục số 1440); ngày 31/12/2019 (Bút lục số 1557) xác nhận nợ số tiền 1.353.756.000 đồng, ngày 31/12/2019 Công ty Thiện Long Nha t tiếp tục chuyển trả nợ cho công ty Chiến T số tiền 800.000.000đ, tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/4/2021 (Bút lục số 1558) hai bên chốt số tiền nợ còn lại của hợp đồng 0504 là 503.755.999 đồng. Đồng thời, căn cứ vào các tài liệu do chính công ty Thiện Long Nha T cung cấp có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Công ty Thiện Long Nha T là người lập chi tiết công nợ phải trả (Đợt 1), tính từ ngày 01/5/2019 -15/5/2019 (Bút lục số 1230) áp dụng giá theo hợp đồng 0504 thời điểm này chưa nhận được công văn số 19. Sau khi Công ty Chiến T gửi công văn số 19 ngày 22/5/2019, ngày 16/5/2019 - 31/5/2019 Chi tiết công nợ phải trả (Đợt 2) (Bút lục số 1228), tại phần ghi chú của bản chi tiết có ghi “ Giá tăng có công văn kèm theo” và kể từ ngày 01/6/2019 đến ngày 31/12/2019 công ty Thiện L đều tính giá mới theo như đơn giá ghi trong công văn số 19 bao gồm: Tháng 6 (Bút lục số 1120-1122) ; tháng 7 (Bút lục số 843- 846; 1254-1256; tháng 8 (Bút lục số 400, 530-532); tháng 9 (Bút lục số 363-365); tháng 10 (Bút lục số 286-287); tháng 11 (Bút luc số 203-207); tháng 12(Bút lục số 31-32). Tất cả các biên bản này đều được bên công ty Thiện L tính theo giá của công văn số 19 và lập từng tháng, có chữ ký của nhân viên và kế toán công ty Thiện Long Nha T.
Tại cấp sơ thẩm bị đơn cho rằng khi thi công công trình Vincom Kon Tum không thành lập Ban chỉ huy công trường và ông Nguyễn Văn C không được công ty Thiện Long Nha T bổ nhiệm là Chỉ huy trưởng công trường Vincom Kon Tum (Bút lục số 2872). Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu cấp phúc thẩm đã thu thập tại công ty cổ phần Vincom Retail xác định được: Công trình Vincom Kon Tum có thành lập Ban chỉ huy công trường và ông Nguyễn Văn C được công ty Thiện Long Nha Trang bổ nhiệm là Chỉ huy trưởng công trình Vincom Kon Tum(Bút lục số 3036-3037) nên HĐXX thấy rằng, cần xem xét đến lời khai và các tài liệu do ông C ký có tại hồ sơ vụ án.
(iv) Tại điểm 2.1 Điều 2 của hợp đồng 0504 quy định “…giá trị cuối cùng của hợp đồng hay giá trị hàng hóa mua bán được xác định chính thức dựa trên khối lượng bê tông thương phẩm được hai bên ký xác nhận trong các bên bản giao nhận hàng hóa..” căn cứ các biên bản giao nhận hàng hóa do ông Nguyễn Văn C là Chỉ huy trưởng và anh Trịnh Thái D là nhân viên kỹ thuật của Ban chỉ huy công trường xây dựng Trung tâm thương mại Vincom Kon Tum ký xác nhận đúng khối lượng hàng hóa yêu cầu, các bên không ai có ý kiến gì. Theo mục 2.3 Điều 2 quy định về phương thức thanh toán “Vào ngày 15 và ngày cuối mỗi tháng, căn cứ nội dung phiếu giao hàng của bên mua tại công trường, bên bán tổng hợp khối lượng và xuất hóa đơn GTGT, …gửi cho bên mua”, các hóa đơn Giá trị gia tăng gồm 27 hóa đơn do Chiến T xuất vào ngày 15 và ngày cuối mỗi tháng đã gửi cho Thiện L đều tính theo giá của công văn số 19. Để xem xét tính hợp pháp của các hóa đơn Giá trị gia tăng này cấp phúc thẩm đã tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc công ty Thiện Long Nha T đã quyết toán thuế đối với 27 hóa đơn này chưa và đã nhận được kết quả tại công văn số 6139/CTKHH-TTKT2 ngày 16/8/2023 Cục thuế Nha Trang đã trả lời “Công ty TNHH Thiện Long Nha Tr đã kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào từ tháng 5/2019 đến tháng 11/2019 và đã kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2019 đối với chi phí của 27 hóa đơn giá trị gia tăng…”(Bút lục số 3034), hơn nữa hợp đồng 0504 cũng không bắt buộc bên Chiến T phải gửi thông báo thay đổi giá qua địa chỉ Email. kttvthienlong@gmail.com, trong khi bên Thiện L đã biết và tính toán giá tăng từ 16 tháng 5 năm 2019 đến khi thực hiện xong hợp đồng 31/12/2019 nên việc Công ty Thiện L cho rằng công ty không nhận được công văn số 19 và không biết việc công ty Chiến T nâng giá bê tông là không đúng.
Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay ông C khẳng định Công ty Thiện Long Nha Tr đã nhận được và đồng ý với đơn giá thay đổi theo Công văn số 19 của công ty Chiến T vì: Tại thời điểm công ty Chiến Thắng gửi cho Công ty Thiện Long Nha T Công văn số 19 cũng đã gửi cho ông 01 bản để biết về đơn giá và khối lượng vật liệu mà bên công ty Chiến T đã cung cấp và khi giao nhận khối lượng hàng hóa với công ty Chiến T ông C cũng thường xuyên thông báo khối lượng và đơn giá có sự thay đổi cho công ty Thiện Long Nha T vì đây là nhiệm vụ của Chỉ huy trưởng công trường.
Từ những phân tích nêu trên HĐXX thấy rằng mặc dù giữa nguyên đơn và bị đơn chưa lập văn bản về thống nhất giá, tuy nhiên trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng bên Công ty Thiện Long Nha T đã biết và tính toán đối chiếu công nợ theo như giá ghi tại Công văn số 19 là mặc nhiên thừa nhận, hai bên đã thực hiện xong hợp đồng là nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại theo quy định tại khoản 3 Điều 3 và Điều 12 Luật thương mại không trái quy định của pháp luật, Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả số tiền nợ gốc 503.755.999 đồng và lãi suất chậm trả trên khoản nợ gốc tính từ ngày 16/9/2020 đến ngày 08/9/2023 là 180.150.239 đồng. Tổng số tiền 683.906.238 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS là có cơ sở chấp nhận.
(v) Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn công ty Thiện Long Nha T với nội dung: Yêu cầu Công ty Chiến T trả lại số tiền 264.907.500 đồng là số tiền thanh toán dư của Hợp đồng cung cấp vật tư 0504 Hội đồng xét xử xét thấy, như đã phân tích tại mục [2], toàn bộ số tiền 264.907.500 đồng là số tiền Công ty Thiện Long Nha T phải trả cho công ty Chiến T theo hợp đồng 0504. Do đó, việc cấp sơ thẩm chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
(vi) Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ chưa khách quan toàn diện dẫn đến giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Chiến T, sửa toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2023/KDTM-ST ngày 08/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum với nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Chiến T. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Thiện Long Nha T.