THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 05/TB-VC1-KDTM NGÀY 04/4/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Xét giá trị thanh, quyết toán mà Công ty 3 yêu cầu Công ty 379 Land phải trả, thấy rằng: Giá trị thanh, quyết toán theo Hợp đồng xây dựng số 01 gồm 02 phần (Phần khối lượng đã hoàn thành theo Báo cáo 410/BC-H41-H45 ngày 25/12/2015 đã được các bên thống nhất là 106.140.666.000₫ và phần giá trị bổ sung theo Dự toán điều chỉnh bổ sung là 18.169.826.000đ).

Đối với phần giá trị phát sinh mà các bên đang tranh chấp, thấy rằng: Theo Báo cáo số 410 thì tổng giá trị của Dự án được điều chỉnh từ 152.756.156.000đ xuống còn 126.082.654.000đ (giảm 26.673.502.000đ). Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng, tổng giá trị Hợp đồng xây dựng số 01 (bao gồm cả phần phát sinh) nhỏ hơn giá trị của Dự án được phê duyệt theo Báo cáo 410 nên phần giá trị phát sinh mà các bên đang tranh chấp đã nằm trong Báo cáo 410. Tuy nhiên, giá trị Dự án theo Báo cáo 410 gồm rất nhiều các hạng mục khác nhau. Theo Phụ lục 02 ngày 15/11/2016 của Hợp đồng xây dựng số 01 thì giá trị Hợp đồng xây dựng số 01 là 107.187.190.000 đồng và theo đó Công ty 379 Land chỉ giao cho Công ty 3 thực hiện một số các hạng mục của Dự án như phần hạng mục xây thô, phần thiết bị; Công ty 3 không thi công các hạng mục hệ thống điện nhẹ, trạm biến áp, máy phát điện và cáp điện từ trạm biến áp ra nguồn điện thành phố, cấp điện và chiếu sáng ngoài nhà; đã điều chỉnh giao cho Công ty TA tổ chức thi công hạng mục phòng cháy chữa cháy hệ thống exit, sự cố và các chi phí khác như chi phí quản lý Dự án, chi phí tư vấn xây dựng, chi phí khác (bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm công trinh, chi phí quan trắc, chi phí kiểm toán, chi phí thẩm tra phê duyệt quyết toán vốn đầu tư...). Căn cứ Báo cáo 410, Công ty 379 Land và Công ty 3 đã lập Phụ lục 02 ngày 15/11/2016, giảm giá trị tạm tính của Hợp đồng từ 115.859.000.000đ, xuống còn 107.187.190.000đ. Do đó, có cơ sở để xác định Báo cáo 410 là báo cáo điều chỉnh giảm tổng mức đầu tư của Dự án và Báo cáo này chưa bao gồm phần chi phí phát sinh theo Dự toán điều chỉnh bổ sung mà Công ty 3 đang yêu cầu Công ty 379 Land phải thanh toán.

Tại mục 5.1 Điều 5 Hợp đồng xây dựng số 01 các bên quy định đối với phần khối lượng thi công thực tế tăng so với giá trị thỏa thuận trong Hợp đồng xây dựng số 01 sẽ được thanh toán sau khi có Dự toán điều chỉnh bổ sung được phê duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng phần Dự toán bổ sung đã được Công ty 379 phê duyệt là đủ điều kiện để buộc Công ty 379 Land thanh toán là chưa chính xác. Vì Công ty 379 chỉ là Nhà đầu tư và là Doanh nghiệp tư nhân, còn trong Hợp đồng các bên quy định là Dự toán điều chỉnh bổ sung phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc điều chỉnh bổ sung Dự toán của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với Hợp đồng xây dựng số 01 nhưng vẫn buộc Công ty 379 Land phải thanh toán gốc và lãi của số tiền điều chỉnh bổ sung theo Dự toán điều chỉnh bổ sung được Công ty 379 phê duyệt là chưa đủ căn cứ.

Tại mục 5.1 Điều 5 Hợp đồng xây dựng số 01 các bên quy định đối với phần khối lượng thi công thực tế tăng so với giá trị thỏa thuận trong Hợp đồng xây dựng số 01 sẽ được thanh toán sau khi có Dự toán điều chỉnh bổ sung được phê duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng phần Dự toán bổ sung đã được Công ty 379 phê duyệt là đủ điều kiện để buộc Công ty 379 Land thanh toán là chưa chính xác. Vì Công ty 379 chỉ là Nhà đầu tư và là Doanh nghiệp tư nhân, còn trong Hợp đồng các bên quy định là Dự toán điều chỉnh bổ sung phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc điều chỉnh bổ sung Dự toán của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với Hợp đồng xây dựng số 01 nhưng vẫn buộc Công ty 379 Land phải thanh toán gốc và lãi của số tiền điều chỉnh bổ sung theo Dự toán điều chỉnh bổ sung được Công ty 379 phê duyệt là chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, trong Phụ lục 02 của Hợp đồng xây dựng số 01 có đề cập đến hạng mục phòng cháy, chữa cháy của Dự án được chuyển giao cho Công ty TA và Biên bản đối chiếu công nợ thực tế ngày 13/12/2017 các bên cũng có liệt kê công nợ của Công ty TA. Công ty 3 cũng thừa nhận phần việc phòng cháy, chữa cháy là Công ty TA thực hiện, Công ty 379 Land ký thông qua Công ty 3. Do phần hạng mục phòng cháy, chữa cháy cũng nằm trong tổng giá trị Dự toán của Dự án theo Báo cáo 410 và Hợp đồng xây dựng số 01 nên cần đưa Công ty TA vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ các hạng mục, giá trị Công ty TA đã thi công, số tiền Công ty TA đã được thanh toán và việc đối trừ giữa Công ty TA, Công ty 3 và Công ty 379 Land từ đó mới có đủ căn cứ chính xác để xác định phần giá trị quyết toán còn thiếu giữa Công ty 3 và Công ty 379 Land.

Về trách nhiệm liên đới giữa Công ty 379 và Công ty 379 Land, thấy rằng: Hợp đồng xây dựng số 01 được ký kết giữa Công ty 379 Land với Liên danh Nhà thầu - Công ty 3 và Công ty HH nhưng do Công ty HH đã rút khỏi Liên danh và các bên đã tiến hành thanh lý Hợp đồng liên danh nên Hợp đồng xây dựng số 01 chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa Công ty 379 Land và Công ty 3. Công ty 379 không tham gia ký kết Hợp đồng xây dựng số 01 với Công ty 3. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 75 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về việc Công ty mẹ có quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và tài chính khác của Công ty con để khẳng định những vấn đề về tài chính của Công ty 379 Land đều phải do Công ty 379 quyết định, từ đó buộc Công ty 379 liên đới cùng Công ty 379 Land thanh toán tiền cho Công ty 3 theo Hợp đồng xây dựng số 01. Tuy nhiên, Công ty 379 Land là pháp nhân đặc biệt (Doanh nghiệp dự án, do Nhà đầu tư thành lập để thực hiện Dự án). Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư đối với dự án áp dụng Hợp đồng BT thì Doanh nghiệp dự án được Nhà đầu tư thành lập phải tổ chức quản lý, hoạch toán độc lập nguồn vốn đầu tư và các hoạt động của Dự án. Hợp đồng BT quy định Công ty 379 Land kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Công ty 379 trong Hợp đồng BT. Tại Phụ lục số 02 của Hợp đồng BT cũng thể hiện Công ty 379 Land là bên nhận thụ hưởng tiền theo Hợp đồng BT. Do đó, cần phải làm rõ các thỏa thuận giữa các bên liên quan, nghĩa vụ tài chính và đối chiếu với các quy định của pháp luật để có cơ sở xác định chính xác nghĩa vụ của các bên.

Trên đây là những vi phạm cần rút kinh nghiệm trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo để các Viện kiểm sát địa phương trong khu vực cùng tham khảo, rút kinh nghiệm./.