Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là thành viên Hội đồng thành viên tại một doanh nghiệp nhà nước và trong quá trình tham gia quản lý, điều hành công ty, tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về cơ chế giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Liên quan đến vấn đề này, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được áp dụng quy định như thế nào?
2. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được áp dụng quy định như thế nào?
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có đặc thù về chủ sở hữu và cơ chế quản lý. Do đó, việc tổ chức và vận hành phải tuân theo những quy định pháp luật riêng. Nguyên tắc áp dụng quy định đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được ghi nhận tại khoản 1 Điều 89 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:
"Điều 89. Áp dụng quy định đối với doanh nghiệp nhà nước
1. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định tại Chương này và các quy định khác có liên quan của Luật này; trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định của Luật này thì áp dụng quy định tại Chương này.
…"
Theo đó, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo pháp luật doanh nghiệp được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định tại Chương IV về doanh nghiệp nhà nước và theo các quy định khác có liên quan của Luật Doanh nghiệp năm 2020. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì ưu tiên áp dụng Chương IV Luật Doanh nghiệp năm 2020 về doanh nghiệp nhà nước. Có thể thấy, vì Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất nên việc bắt buộc doanh nghiệp thuộc trường hợp này tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kết hợp với hệ thống quy định đặc thù về doanh nghiệp nhà nước sẽ bảo đảm sự kiểm soát tối đa của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Như vậy, việc áp dụng mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cùng hệ thống quy định pháp luật đặc thù giúp bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức và quản lý doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Qua đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu có cơ sở thực hiện quyền quản lý, giám sát và bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
2. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Ban kiểm soát là cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát độc lập với hoạt động quản lý, điều hành. Nội dung về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được ghi nhận cụ thể tại Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và được hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP) như sau:
"Điều 103. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên
1. Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.
2. Một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước.
3. Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc;
b) Không được là người quản lý công ty và người quản lý tại doanh nghiệp khác; không được là Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước; không phải là người lao động của công ty;
c) Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên Hội đồng thành viên của công ty; Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Kiểm soát viên khác của công ty;
d) Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Và
"Điều 8. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
1. Cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập một đơn vị chuyên trách hoặc giao nhiệm vụ cho một đơn vị hoặc cá nhân thuộc cơ quan đại diện chủ sở hữu làm đầu mối theo dõi, giám sát, đánh giá, tổng hợp và xử lý các công việc liên quan đến hoạt động, quản lý, chế độ chính sách của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.
3. Kiểm soát viên được hưởng chế độ phúc lợi, ưu đãi và tham gia các hoạt động xã hội, đoàn thể của doanh nghiệp như cán bộ, nhân viên và người lao động của doanh nghiệp."
Theo đó, căn cứ vào quy mô công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Doanh nghiệp được phép điều chỉnh số lượng Kiểm soát viên tùy thuộc vào quy mô tài chính và tính chất phức tạp của từng doanh nghiệp nhà nước, giúp tối ưu hóa chi phí vận hành bộ máy. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.
Về nhiệm kỳ công tác, nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Việc giới hạn tối đa 10 năm công tác liên tục tại một doanh nghiệp giúp đổi mới động lực kiểm soát, ngăn ngừa nguy cơ phát sinh lợi ích nhóm, bảo đảm Ban kiểm soát thực hiện chức năng một cách độc lập và khách quan nhất.
Đáng chú ý, pháp luật cho phép một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước, điều này là hoàn toàn hợp lý. Bởi lẽ, đối với những doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ, khối lượng công việc cần kiểm tra, giám sát không quá lớn, nếu giới hạn Kiểm soát viên chỉ được đảm nhiệm chức danh tại một doanh nghiệp có thể dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn nhân lực do chưa sử dụng hết năng lực và thời gian làm việc của Kiểm soát viên, trong khi những doanh nghiệp khác vẫn có nhu cầu bố trí nhân sự thực hiện công tác kiểm soát. Đồng thời, việc giới hạn Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được bổ nhiệm tối đa tại 04 doanh nghiệp nhằm tránh tình trạng bị "quá tải", bảo đảm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có đủ thời gian và năng lực để giám sát thực chất các hoạt động của từng doanh nghiệp.
Về tiêu chuẩn và điều kiện đối với Trưởng Ban kiểm soát và Kiểm soát viên, pháp luật đã đặt ra các yêu cầu cụ thể về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc cũng như tính độc lập của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên như sau:
- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc. Yêu cầu này nhằm bảo đảm người thực hiện công tác kiểm soát có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm cần thiết để đánh giá hoạt động quản lý, tài chính và việc tuân thủ pháp luật tại doanh nghiệp;
- Không được là người quản lý công ty và người quản lý tại doanh nghiệp khác; không được là Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước; không phải là người lao động của công ty. Các giới hạn này góp phần hạn chế xung đột giữa chức năng kiểm tra, giám sát với vai trò quản lý, điều hành hoặc quan hệ lao động tại doanh nghiệp được kiểm soát, qua đó hỗ trợ bảo đảm tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
- Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên Hội đồng thành viên của công ty; Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Kiểm soát viên khác của công ty. Điều này hướng đến việc hạn chế ảnh hưởng từ quan hệ cá nhân đến hoạt động kiểm soát, đồng thời giảm nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích trong quá trình giám sát doanh nghiệp;
- Ngoài các yêu cầu trên, Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện khác tại Điều lệ công ty. Điều này tạo cơ sở để doanh nghiệp xác định thêm những yêu cầu phù hợp với đặc điểm hoạt động và cơ cấu tổ chức của mình.
Những quy định tại Điều 8 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP đóng vai trò hướng dẫn trực tiếp cho những nội dung về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Theo đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập một đơn vị chuyên trách hoặc giao nhiệm vụ cho một đơn vị hoặc cá nhân thuộc cơ quan đại diện chủ sở hữu làm đầu mối theo dõi, giám sát, đánh giá, tổng hợp và xử lý các công việc liên quan đến hoạt động, quản lý, chế độ chính sách của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên. Như vậy, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có thể trực tiếp báo cáo tình hình, xin ý kiến chỉ đạo hoặc phản ánh các sai phạm tại doanh nghiệp đến bộ phận chuyên trách tại cơ quan đại diện chủ sở hữu, không phải thông qua bộ máy quản lý của chính doanh nghiệp đang được kiểm soát. Từ đó, những nội dung đánh giá của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp trở nên khách quan, phản ánh thực chất tình hình của doanh nghiệp.
Về tiền lương, thù lao, tiền thưởng, điều kiện làm việc, định mức chi phí công tác và các chi phí hoạt động khác của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định, tối thiểu bằng thành viên Hội đồng thành viên hoặc Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) tại doanh nghiệp; được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và được lập thành mục riêng trong báo cáo tài chính hằng năm của doanh nghiệp. Việc cơ quan đại diện chủ sở hữu trực tiếp quyết định mức lương, thù lao, tiền thưởng và các đãi ngộ khác giúp Ban kiểm soát, Kiểm soát viên không bị phụ thuộc tài chính vào doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mức lương, thù lao, tiền thưởng và các đãi ngộ khác của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tối thiểu bằng thành viên Hội đồng thành viên hoặc Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) giúp thu hút nhân sự giỏi chuyên môn, tương xứng với trách nhiệm và áp lực công việc. Ngoài ra, chế độ đãi ngộ của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bắt buộc lập thành mục riêng trong báo cáo tài chính giúp cổ đông, Nhà nước và các cơ quan kiểm toán dễ dàng giám sát tính hợp lý của chi phí hoạt động dành cho Ban kiểm soát.
Bên cạnh chế độ đãi ngộ từ cơ quan đại diện chủ sở hữu, Kiểm soát viên được hưởng chế độ phúc lợi, ưu đãi và tham gia các hoạt động xã hội, đoàn thể của doanh nghiệp như cán bộ, nhân viên và người lao động của doanh nghiệp. Qua đó, quyền lợi chính đáng và môi trường làm việc của Kiểm soát viên được bảo đảm, giúp họ hòa nhập với đời sống đoàn thể của doanh nghiệp nhưng vẫn giữ vững sự độc lập trong công tác chuyên môn.
Tóm lại, việc tổ chức Ban kiểm soát, xác lập tiêu chuẩn đối với Kiểm soát viên và xây dựng cơ chế bảo đảm điều kiện hoạt động là những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giám sát tại doanh nghiệp nhà nước. Các quy định này vừa tạo điều kiện sử dụng nhân lực kiểm soát phù hợp với quy mô doanh nghiệp, vừa hạn chế xung đột lợi ích và tăng cường tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, hoạt động kiểm soát có cơ sở phát huy vai trò phát hiện rủi ro, bảo đảm tính minh bạch và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trân trọng./.