Tiêu chuẩn chung về việc nộp, bổ sung hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được quy định như thế nào?
Tiêu chuẩn chung về việc nộp, bổ sung hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang chuẩn bị xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhưng chưa rõ quy định về hồ sơ. Vậy tiêu chuẩn chung về việc nộp và bổ sung hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được quy định như thế nào? Nếu hồ sơ thiếu hoặc tài liệu nước ngoài chưa hợp lệ thì có được yêu cầu bổ sung không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.
MỤC LỤC
Trả lời:
1. Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài là gì?
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật Việt Nam cho phép doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam thông qua hình thức chi nhánh. Việc xác định rõ khái niệm chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước cũng như bảo vệ quyền lợi của khách hàng tham gia bảo hiểm. Do đó, khoản 19, 20 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã ghi nhận như sau:
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
19. Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam.
20. Chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam.”
Theo đó, có thể hiểu chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là chi nhánh chỉ là bộ phận hoạt động tại Việt Nam của doanh nghiệp nước ngoài, không tồn tại độc lập về mặt pháp lý. Mọi trách nhiệm phát sinh từ hoạt động của chi nhánh cuối cùng đều do doanh nghiệp mẹ ở nước ngoài đứng ra bảo đảm thực hiện.
Còn chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài có thể được hiểu là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam. Có thể thấy, bản chất pháp lý của loại chi nhánh này tương tự chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chỉ khác ở lĩnh vực hoạt động là tái bảo hiểm.
Như vậy, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài đều là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Dù không có tư cách pháp nhân độc lập, các chi nhánh này vẫn được doanh nghiệp mẹ bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ phát sinh. Điều này vừa tạo điều kiện thu hút nguồn vốn, kinh nghiệm và công nghệ quốc tế vào thị trường bảo hiểm Việt Nam, vừa bảo đảm an toàn pháp lý cho khách hàng trong nước. Qua đó, pháp luật Việt Nam đã xây dựng cơ chế phù hợp để phát triển thị trường bảo hiểm theo hướng hiện đại, minh bạch và hội nhập.
2. Tiêu chuẩn chung về việc nộp, bổ sung hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được quy định như thế nào?
Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng phát triển minh bạch và chuyên nghiệp, việc thiết lập các tiêu chuẩn khắt khe đối với hồ sơ thành lập doanh nghiệp bảo hiểm là vô cùng cần thiết. Để đảm bảo tính pháp lý và sự thống nhất trong công tác quản lý, Chính phủ đã ban hành các nội dung cụ thể tại Điều 15 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 31 Nghị định số 97/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2023/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 46/2023/NĐ-CP”) như sau:
“Điều 15. Tiêu chuẩn chung về việc nộp, bổ sung hồ sơ, tài liệu
1. Hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động nộp Bộ Tài chính phải được lập thành 02 bộ trong đó có 01 bộ là bản chính, 01 bộ là bản sao.
2. Hồ sơ, tài liệu nộp Bộ Tài chính phải đáp ứng các quy định sau đây:
a) Các tài liệu có chữ ký, chức danh và con dấu nước ngoài của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại hồ sơ đề nghị phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ đề nghị, trừ các tài liệu sau đây: Văn bản đề nghị cấp Giấy phép; bản sao thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu; văn bản của cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp; văn bản ủy quyền; văn bản cam kết;
b) Trường hợp hồ sơ có tài liệu là bản sao thì phải là bản sao từ sổ gốc hoặc được chứng thực;
c) Đối với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức, cá nhân nước ngoài, mỗi bộ gồm 01 bản bằng tiếng Việt và 01 bản bằng tiếng Anh, trừ các văn bản tiếng Việt là bản gốc (hoặc sao từ bản gốc tiếng Việt) được lập tại Việt Nam;
d) Tài liệu được lập bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm bản dịch chứng thực sang tiếng Việt bởi cơ quan có thẩm quyền. Bản dịch các báo cáo tài chính phải được xác nhận của tổ chức, cá nhân được phép hành nghề dịch thuật theo quy định của pháp luật;
đ) Phiếu lý lịch tư pháp theo mẫu hoặc giấy tờ tương đương của người nước ngoài do pháp luật nước ngoài quy định được cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày nộp hồ sơ đề nghị không quá 12 tháng, trong đó phải có đầy đủ thông tin về tình trạng án tích;
e) Sơ yếu lý lịch phải được lập trước ngày nộp hồ sơ đề nghị không quá 06 tháng;
g) Các xác nhận của ngân hàng về số dư tiền Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi gửi tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam quy định tại Nghị định này phải được lập trước ngày nộp hồ sơ đề nghị không quá 06 tháng;
h) Trong mỗi bộ hồ sơ phải có danh mục tài liệu.
3. Tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình lập hồ sơ, tài liệu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ, tài liệu. Trường hợp tổ chức, cá nhân gian lận thông tin trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép để có đủ điều kiện được cấp giấy phép thì trong vòng 05 năm kể từ thời điểm phát hiện hành vi gian lận, Bộ Tài chính có quyền từ chối xem xét cấp Giấy phép đối với các tổ chức, cá nhân này.
4. Khi các loại giấy tờ về lai lịch, nhân dạng của công dân Việt Nam, giấy tờ khác thuộc thành phần hồ sơ quy định tại Nghị định này đã được tích hợp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và các cơ sở dữ liệu khác thì Bộ Tài chính có trách nhiệm khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và các cơ sở dữ liệu khác trên cơ sở trao đổi, cung cấp thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước.”
Theo đó, tiêu chuẩn chung về việc nộp, bổ sung hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động được diễn giải cụ thể qua các khía cạnh sau:
Thứ nhất, về hình thức và số lượng bộ hồ sơ.
Tất cả hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động nộp về Bộ Tài chính phải được lập thành 02 bộ, bao gồm 01 bộ bản chính và 01 bộ bản sao. Việc quy định số lượng này giúp cơ quan chức năng dễ dàng lưu trữ và đối chiếu trong quá trình thẩm định.
Thứ hai, về tính pháp lý của các loại giấy tờ, để đảm bảo giá trị xác thực:
- Các tài liệu có chữ ký, chức danh và con dấu nước ngoài của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại hồ sơ đề nghị phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ đề nghị, trừ các tài liệu sau đây: Văn bản đề nghị cấp Giấy phép; bản sao thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu; văn bản của cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp; văn bản ủy quyền; văn bản cam kết;
- Trường hợp hồ sơ có tài liệu là bản sao thì phải là bản sao từ sổ gốc hoặc được chứng thực;
- Đối với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức, cá nhân nước ngoài, mỗi bộ gồm 01 bản bằng tiếng Việt và 01 bản bằng tiếng Anh, trừ các văn bản tiếng Việt là bản gốc (hoặc sao từ bản gốc tiếng Việt) được lập tại Việt Nam;
- Tài liệu được lập bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm bản dịch chứng thực sang tiếng Việt bởi cơ quan có thẩm quyền. Bản dịch các báo cáo tài chính phải được xác nhận của tổ chức, cá nhân được phép hành nghề dịch thuật theo quy định của pháp luật;
- Phiếu lý lịch tư pháp theo mẫu hoặc giấy tờ tương đương của người nước ngoài do pháp luật nước ngoài quy định được cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày nộp hồ sơ đề nghị không quá 12 tháng, trong đó phải có đầy đủ thông tin về tình trạng án tích;
- Sơ yếu lý lịch phải được lập trước ngày nộp hồ sơ đề nghị không quá 06 tháng;
- Các xác nhận của ngân hàng về số dư tiền Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi gửi tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam quy định tại Nghị định này phải được lập trước ngày nộp hồ sơ đề nghị không quá 06 tháng;
- Trong mỗi bộ hồ sơ phải có danh mục tài liệu.
Thứ ba, về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và xu hướng số hóa.
Tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình lập hồ sơ, tài liệu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ, tài liệu. Trường hợp tổ chức, cá nhân gian lận thông tin trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép để có đủ điều kiện được cấp giấy phép thì trong vòng 05 năm kể từ thời điểm phát hiện hành vi gian lận, Bộ Tài chính có quyền từ chối xem xét cấp Giấy phép đối với các tổ chức, cá nhân này.
Song song đó, nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, khi các loại giấy tờ về lai lịch, nhân dạng của công dân Việt Nam, giấy tờ khác thuộc thành phần hồ sơ đã được tích hợp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và các cơ sở dữ liệu khác thì Bộ Tài chính có trách nhiệm khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và các cơ sở dữ liệu khác trên cơ sở trao đổi, cung cấp thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
Việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về hồ sơ không chỉ thể hiện sự chuyên nghiệp của nhà đầu tư mà còn là “màng lọc” đầu tiên để bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm trong tương lai. Sự minh bạch trong hồ sơ chính là nền móng vững chắc cho một doanh nghiệp kinh doanh bền vững trên thị trường.
Như vậy, Điều 15 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP về tiêu chuẩn hồ sơ là một mắt xích quan trọng trong quy trình quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Ý nghĩa chung của nội dung này không chỉ dừng lại ở việc chuẩn hóa các thủ tục hành chính, mà còn góp phần xây dựng một thị trường bảo hiểm an toàn, lành mạnh và hiện đại. Việc nắm vững và thực hiện đúng các tiêu chuẩn này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời khẳng định uy tín và năng lực ngay từ bước đầu gia nhập thị trường.
Trân trọng./.