Thông báo rút kinh nghiệm số 146/TB-VKSTC ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội về “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các phán quyết của trọng tài nước ngoài”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 146/TB-VKSTC NGÀY 26/7/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI VỀ “YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM CÁC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
- Đối với việc thứ nhất, thuộc trường hợp không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm lại ra phán quyết công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam là không đúng nên đã bị cấp giám đốc thẩm huỷ án và giao hồ sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại.
Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố H chưa yêu cầu Ngân hàng DBS cung cấp đủ tài liệu chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu quy định tại Điều 434 Bộ Luật TTDS cụ thể: Quyết định OS 1133/2012, tài liệu số ORC 2018/2013 ngày 25/3/2013 của Tòa Thượng thẩm Singapore (Quyết định 1133) không thể hiện nội dung về hiệu lực thi hành Quyết định. Theo điểm b khoản 1 Điều 434, Ngân hàng DBS phải nộp cho Tòa án văn bản của Tòa án Singapore hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của Singapore xác nhận Quyết định 1133 có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam. Nhưng, Ngân hàng DBS mới nộp cho Tòa án văn bản xác nhận hiệu lực thi hành Quyết định 1133 của ông Govinda Pannir Selvam (Thẩm phán Tòa án Tối cao Singapore đã nghỉ hưu) và Văn bản của Đại sứ quán nước Cộng hòa Singapore tại Việt Nam xác nhận Đạo luật về Thời hiệu là đạo luật có hiệu lực và hiện đang thi hành tại Singapore. Tuy nhiên, cả hai văn bản này đều không phải là văn bản pháp lý có giá trị chứng minh.
Tòa Thượng thẩm Singapore ban hành Quyết định 1133 vắng mặt ông B, bà L. Nhưng, Ngân hàng DBS mới cung cấp được cho Tòa án tài liệu về việc Tòa thượng thẩm Singapore tống đạt Thông báo triệu tập của Tòa án và Bản tuyên thệ tới ông B, bà L bằng cách gửi thư bảo đảm tại Bưu điện Singapore. Chưa có xác nhận của Bưu điện Singapore.
Tại thời điểm giải quyết việc dân sự trên, giữa Việt Nam và Singapore chưa ký kết hoặc cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.
Đối với việc trên, lẽ ra Tòa án hai cấp phải căn cứ quy định tại Khoản 1, 2 Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Khoản 4 Điều 22 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao để ban hành Văn bản gửi Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và áp dụng nguyên tắc có đi có lại giữa Việt Nam và Singapore để đưa ra phán quyết thì mới đúng pháp luật và toàn diện.
- Đối với việc thứ hai, thuộc trường hợp công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài. Toà án cấp sơ thẩm đã công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài là đúng. Toà án cấp phúc thẩm không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài là không có căn cứ pháp luật nên đã bị cấp giám đốc thẩm huỷ quyết định phúc thẩm giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
Theo “Phán quyết trọng tài số 5171 (2016) S.Z.A.Zi do người yêu cầu cung cấp (bản dịch) thì ngày 22/2/2017, người bị yêu cầu đã gửi đơn lên Tòa án nhân nhân trung cấp QC phản đối hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Căn cứ quy định tại điều 66 “Quy tắc trọng tài Ủy ban trọng tài QC”, thì thủ tục trọng tài của vụ kiện này đã bị đình chỉ.
Ngày 19/4/2017, Tòa án nhân dân trung cấp QC đã ra Quyết định dân sự số Y01MT261 (2017), xác định điều khoản trọng tài quy định tại Điều XI “Hợp đồng dịch vụ” giữa Công ty Y và Công ty S là hợp pháp, có hiệu lực, Ủy ban Trọng tài QC có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận trọng tài giữa Công ty Y và Công ty S. Căn cứ Điều 11 trong “Hợp đồng dịch vụ” ngày 07/9/2009 được kí giữa ba bên Công ty Y (người yêu cầu) Công ty S (người bị yêu cầu thứ nhất) và Công ty GM (người bị yêu cầu thứ hai) quy định “Luật áp dụng trọng tài là pháp luật nước Cộng hòa Nhân dân TH”. Do đó, Ủy ban Trọng tài QC đã khôi phục trọng tài và ra phán quyết giải quyết tranh chấp giữa các bên là đúng theo thỏa thuận của các bên và đúng với Quy tắc trọng tài của Ủy ban Trọng tài QC. Do đó, căn cứ Điều 10, Điều 13 Quy tắc trọng tài của Ủy ban Trọng tài QC không chấp nhận phản đối của Công ty S về năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài của Công ty Y là đúng.
Như vậy, có cơ sở xác định Phán quyết số 5171 (2016) S.Z.A.Zi có hiệu lực thi hành. Thỏa thuận trọng tài là hợp pháp, thành phần của Trọng tài, thủ tục giải quyết tranh chấp phù hợp với thỏa thuận trọng tài của Công ty Y, phù hợp với Quy tắc trọng tài Ủy ban Trọng tài QC, TQ.
Quyết định sơ thẩm căn cứ Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài; Căn cứ Điều 424; Điều 430; Điều 458; Điều 461 Bộ luật TTDS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 tuyên xử Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết số 5171 (2016) S.Z.A.Zi ngày 15/8/2017 của Ủy ban Trọng tài QC, TQ là đúng vì TQ và Việt Nam đều là thành viên của Công ước này. Quyết định phúc thẩm áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 459 Bộ luật TTDS năm 2015 chấp nhận kháng cáo của Công ty S sửa quyết định sơ thẩm là chưa xem xét toàn diện việc dân sự nêu trên.
Từ kết quả giải quyết 02 việc dân sự cụ thể nêu trên, khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các việc dân sự tương tự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần lưu ý phân biệt trường hợp nào áp dụng nguyên tắc có đi có lại, trường hợp nào áp dụng Luật Tương trợ tư pháp; trường hợp nào áp dụng Công ước New York năm 1958 cũng như việc áp dụng các hiệp định song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc công nhận. Từ đó, căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam đưa ra phán quyết đúng quy định của pháp luật về việc công hoặc không công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát việc giải quyết một số việc dân sự về kinh doanh, thương mại “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các phán quyết của trọng tài nước ngoài”. Viện KSND tối cao thông báo để Viện KSND các cấp tham khảo, vận dụng nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các việc dân sự về kinh doanh, thương mại./.