THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 83/TB-VKSND NGÀY 27/4/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Thứ nhất, Quyết định số 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02/5/2007 về bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng N là quy định nội bộ của Ngân hàng, ngay tại Điều 1 của Quyết định 398 về phạm vi điều chỉnh nêu rõ “quy định này hướng dẫn việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng N đối với khách hàng”. Như vậy, Quyết định 398 chỉ có phạm vi điều chỉnh, ràng buộc trong nội bộ Ngân hàng. Khách hàng là bà T không thể biết và không buộc phải biết các quy định nội bộ của Ngân hàng, không phải là đối tượng điều chỉnh của các quy định nội bộ Ngân hàng. Do đó, việc ông H ký Thư bảo lãnh vượt thẩm quyền là lỗi của Ngân hàng và chi nhánh Ngân hàng.

Bên cạnh đó, sau khi nhận được Thư bảo lãnh, bà T đã kiểm tra bằng cách yêu cầu Chi nhánh T – Ngân hàng N xác nhận Thư bảo lãnh của Ngân hàng là đúng. Tại Văn bản số 217 ngày 21/7/2011 về trả lời theo Giấy đề nghị xác nhận nghĩa vụ theo thư bảo lãnh thanh toán của Chi nhánh T – Ngân hàng N xác nhận nội dung “Việc phát hành Thư bảo lãnh thanh toán là đúng thẩm quyền của Giám đốc Ngân hàng”. Trên cơ sở đó, bà T đã thực hiện việc chuyển tiền vào tài khoản của Công ty M mở tại Chi nhánh T – Ngân hàng N.

Thứ hai, căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 92 Bộ luật dân sự năm 2005 (có hiệu lực tại thời điểm xảy ra sự kiện pháp lý) quy định:

“3. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền.

5. Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện".

Như vậy, Chi nhánh T – Ngân hàng N là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng, khi Chi nhánh xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng phải có nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh tại Thư bảo lãnh do Chi nhánh của Ngân hàng phát hành theo quy định tại Điều 92, Điều 93, Điều 618 Bộ luật dân sự năm 2005. Thời điểm ông H ký Thư bảo lãnh với tư cách Giám đốc Chi nhánh T của Ngân hàng N, có đóng dấu của Chi nhánh T, nên Thư bảo lãnh là văn bản do Ngân hàng N phát hành, ông H chỉ ký với tư cách là người đại diện cho Ngân hàng. Việc ông H vi phạm các quy định của Ngân hàng là trách nhiệm cá nhân giữa ông H với pháp nhân Ngân hàng N.

Trong vụ án này, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng và đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tính lãi suất và án phí có căn cứ, đúng pháp luật.

Đến cấp giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cấp giám đốc thẩm đề nghị Tòa án chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; huỷ Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm; giao hồ sơ cho TAND cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại là không đúng quy định của pháp luật, không đúng với những tài liệu, chứng cứ của vụ án. Nên đến cấp giám đốc thẩm TAND tối cao, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hủy quyết định giám đốc thẩm, giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm.

Vì vậy, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên cần nắm chắc các quy định của pháp luật dân sự, các văn bản hướng dẫn để phát hiện vi phạm của Tòa án, từ đó thực hiện tốt quyền kiến nghị, kháng nghị.

Trên đây là vi phạm của Tòa án trong việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, VKSND tối cao thông báo đến VKSND các cấp tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án tương tự./.