Nội dung kiểm tra, giám sát và hình thức kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Nội dung kiểm tra, giám sát và hình thức kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật doanh nghiệp Việt Nam và đặc biệt quan tâm đến doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Tôi muốn làm rõ công tác kiểm tra, giám sát tại doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có sự khác biệt nào so với doanh nghiệp nhà nước không thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Cụ thể, nội dung kiểm tra, giám sát và hình thức kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Nội dung kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?

2. Pháp luật quy định ra sao về hình thức kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh?

 

Trả lời:

1. Nội dung kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?

Đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, chế độ kiểm tra, giám sát được thiết lập một cách chặt chẽ nhằm bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ an ninh, quốc phòng được giao. Công tác kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh bao gồm các nội dung được liệt kê tại Điều 13 Thông tư số 06/2024/TT-BQP ngày 24/01/2024 của Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng (sau đây gọi tắt là "Thông tư số 06/2024/TT-BQP"), cụ thể như sau:

"Điều 13. Nội dung kiểm tra, giám sát

1. Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

b) Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

c) Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp;

d) Công tác tổ chức quản lý, quản trị nội bộ của doanh nghiệp;

đ) Cơ chế phối hợp, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp theo Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

e) Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với người quản lý, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, người quản lý doanh nghiệp và Kiểm soát viên;

g) Tình hình, kết quả hoạt động đầu tư liên doanh với đối tác nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

h) Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

i) Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; quản lý, sử dụng nguồn lực được giao không tính vào phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan;

k) Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp;

l) Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh theo kế hoạch hằng năm được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng;

m) Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

2. Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện thông qua Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển trung và dài hạn, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp theo nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị;

b) Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên) phê duyệt;

c) Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp;

d) Hoạt động của Người đại diện phần vốn nhà nước theo Quy chế hoạt động được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

đ) Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với Người đại diện phần vốn nhà nước; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, Người đại diện phần vốn nhà nước;

e) Chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi thực hiện hoạt động liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

g) Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

h) Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp;

i) Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án theo nghị quyết, hoặc quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị;

k) Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng;

l) Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan."

Theo đó, đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nội dung này bảo đảm doanh nghiệp vận hành đúng định hướng chiến lược được Nhà nước, Bộ Quốc phòng đề ra, tránh mở rộng sang các ngành nghề không phù hợp, đi lệch khỏi mục tiêu nhiệm vụ được giao;

- Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc kiểm tra, giám sát nội dung này sẽ giúp công tác tái cơ cấu doanh nghiệp được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và có thể góp phần hạn chế nguy cơ thất thoát nguồn vốn nhà nước trong quá trình tổ chức lại;

- Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện báo cáo, công bố thông tin phục vụ công tác quản lý và theo dõi. Vì vậy, việc kiểm tra, giám sát doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin sẽ bảo đảm doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, tạo điều kiện cho công tác quản lý doanh nghiệp quốc phòng, an ninh;

- Công tác tổ chức quản lý, quản trị nội bộ của doanh nghiệp. Đây là nội dung tác động trực tiếp đến hoạt động thường xuyên, cũng như quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp. Việc kiểm tra, giám sát công tác tổ chức quản lý, quản trị nội bộ của doanh nghiệp sẽ bảo đảm doanh nghiệp được vận hành hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao;

- Cơ chế phối hợp, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp theo Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Điều này sẽ giúp phát huy một cách hiệu quả vai trò của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên, qua đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu nắm bắt và xử lý kịp thời những sai phạm có thể phát sinh;

- Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với người quản lý, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, người quản lý doanh nghiệp và Kiểm soát viên. Việc kiểm tra, giám sát nội dung này nhằm bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong quá trình đánh giá nhân sự, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp quốc phòng, an ninh;

- Tình hình, kết quả hoạt động đầu tư liên doanh với đối tác nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp, chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Nội dung kiểm tra, giám sát này góp phần kiểm soát chặt chẽ rủi ro về tài chính và pháp lý khi doanh nghiệp tham gia vào giao dịch quốc tế, có thể ngăn chặn các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và bí mật quân sự;

- Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc kiểm tra, giám sát nội dung này nhằm bảo đảm nguồn lực đất đai của Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, góp phần ngăn chặn tình trạng lợi dụng ưu đãi về đất đai của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh để mua bán, trục lợi từ quyền sử dụng đất;

- Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, quản lý, sử dụng nguồn lực được giao không tính vào phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan. Nội dung kiểm tra, giám sát này nhằm bảo đảm an toàn tài chính doanh nghiệp, đồng thời, các trang thiết bị, vật tư, máy móc, dây chuyền sản xuất do Nhà nước giao được quản lý, bảo trì và sử dụng đúng mục đích thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;

- Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp. Việc kiểm tra, giám sát nội dung này sẽ góp phần phòng ngừa việc lợi dụng các dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm, gây thất thoát tài sản nhà nước;

- Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh theo kế hoạch hằng năm được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng. Đây là nội dung phản ánh hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Việc kiểm tra, giám sát tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp giúp đánh giá mức độ hoàn thành các nhiệm vụ được Bộ Quốc phòng giao, bảo đảm hoạt động sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu phục vụ quốc phòng, an ninh;

- Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan. Bộ Quốc phòng có thể ghi nhận thêm những nội dung cần kiểm tra, giám sát phù hợp với tình hình thực tiễn của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng nhưng vẫn bảo đảm không trái với pháp luật.

Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện thông qua Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển trung và dài hạn, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp theo nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị. Nội dung kiểm tra, giám sát này sẽ đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đã được thông qua của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị. Đồng thời, các quyết định, nghị quyết được thông qua phải bảo đảm đúng định hướng do Bộ Quốc phòng đề ra;

- Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên) phê duyệt. Nội dung kiểm tra, giám sát này sẽ bảo đảm hoạt động tái cơ cấu của doanh nghiệp là được diễn ra minh bạch, phù hợp và đáp ứng định hướng, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng. Qua đó, có thể hạn chế nguy cơ tái cơ cấu dẫn đến giảm tỷ lệ phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp;

- Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp. Việc kiểm tra, giám sát doanh nghiệp chấp hành chế độ báo cáo, cung cấp thông tin sẽ tăng tính minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp, tạo cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động của doanh nghiệp;

- Hoạt động của Người đại diện phần vốn nhà nước theo Quy chế hoạt động được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Người đại diện phần vốn nhà nước là cá nhân đại diện cho ý chí của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Việc kiểm tra, giám sát sẽ bảo đảm cá nhân này thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được giao, thực hiện biểu quyết thông qua nghị quyết, quyết định theo đúng ý kiến chỉ đạo của cơ quan đại diện chủ sở hữu;

- Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với Người đại diện phần vốn nhà nước; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, Người đại diện phần vốn nhà nước. Nội dung này nhằm bảo đảm việc đánh giá, xếp loại nhân sự, quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách khác của người lao động, Người đại diện phần vốn góp được thực hiện khách quan, minh bạch, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động, Người đại diện phần vốn góp tại doanh nghiệp;

- Chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi thực hiện hoạt động liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Nội dung kiểm tra, giám sát này nhằm phòng ngừa rủi ro trong hợp tác quốc tế, góp phần ngăn ngừa nguy cơ xâm phạm đến bí mật nhà nước;

- Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc kiểm tra, giám sát tình hình quản lý, sử dụng đất sẽ bảo đảm doanh nghiệp sử dụng phần đất được Nhà nước giao đúng mục đích, tránh gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước;

- Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp Nhà nước đánh giá hiệu quả kinh tế của phần vốn tại doanh nghiệp, kịp thời nhận biết các rủi ro mất an toàn tài chính hoặc không đáp ứng nhiệm vụ được giao;

- Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án theo nghị quyết, hoặc quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị. Nội dung này sẽ góp phần phòng ngừa việc lợi dụng các dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm, gây thất thoát tài sản nhà nước;

- Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng. Dù doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có thể thực hiện hoạt động kinh doanh, phát triển kinh tế nhưng hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng, an ninh vẫn là yêu cầu bắt buộc. Việc kiểm tra, giám sát tập trung đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và các chỉ tiêu được giao, bảo đảm doanh nghiệp thực hiện đúng yêu cầu của Bộ Quốc phòng, đồng thời kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót trong quá trình triển khai;

- Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan. Bộ Quốc phòng có thể ghi nhận thêm những nội dung cần kiểm tra, giám sát phù hợp với tình hình thực tiễn của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng nhưng vẫn bảo đảm không trái với pháp luật.

Như vậy, pháp luật đã quy định tương đối rõ ràng và cụ thể các nội dung cần kiểm tra, giám sát tại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Công tác kiểm tra, giám sát được triển khai trên nhiều phương diện, bao quát từ việc thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, quản trị nhân sự đến việc thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao. Ngoài ra, các nội dung kiểm tra, giám sát cũng có sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Điều này là phù hợp với cơ cấu vốn sở hữu và mô hình tổ chức quản lý của từng loại hình doanh nghiệp, vừa bảo đảm hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ được giao.

2. Pháp luật quy định ra sao về hình thức kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh?

Chế độ kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh cần phải tuân thủ các yêu cầu về hình thức. Hình thức kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được ghi nhận tại Điều 16 Thông tư số 06/2024/TT-BQP, cụ thể như sau:

"Điều 16. Hình thức kiểm tra, giám sát

1. Kiểm tra, giám sát gián tiếp thông qua việc tổng hợp, phân tích, đánh giá, thẩm tra, thẩm định các loại báo cáo, hồ sơ tài liệu khác có liên quan của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Kiểm soát viên, Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và tổng hợp kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền đã kiểm tra, kiểm toán, thanh tra trong kỳ có liên quan.

2. Kiểm tra, giám sát trực tiếp tại doanh nghiệp thông qua thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát theo kế hoạch kiểm tra, giám sát định kỳ hằng năm hoặc đột xuất được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3. Kết hợp hình thức kiểm tra, giám sát quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này."

Theo đó, việc kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được thực hiện dưới các hình thức sau:

Thứ nhất, kiểm tra, giám sát gián tiếp thông qua việc tổng hợp, phân tích, đánh giá, thẩm tra, thẩm định các loại báo cáo, hồ sơ tài liệu khác có liên quan của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Kiểm soát viên, Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và tổng hợp kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền đã kiểm tra, kiểm toán, thanh tra trong kỳ có liên quan. Hình thức này cho phép Bộ Quốc phòng và các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Quốc phòng có thể theo dõi tình hình tài chính và tiến độ thực hiện nhiệm vụ mà không làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp. Đồng thời, hình thức kiểm tra, giám sát gián tiếp còn giúp tiết kiệm ngân sách, thời gian và nhân lực để thành lập, tổ chức các Đoàn kiểm tra, giám sát. Mặt khác, hình thức này lại phụ thuộc nhiều vào độ tin cậy của các báo cáo, nếu các chủ thể lập báo cáo không trung thực hoặc cố tình che giấu thông tin thì cơ quan quản lý khó có thể phát hiện và xử lý vi phạm.

Thứ hai, kiểm tra, giám sát trực tiếp tại doanh nghiệp thông qua thành lập Đoàn kiểm tra, giám sát theo kế hoạch kiểm tra, giám sát định kỳ hằng năm hoặc đột xuất được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đoàn kiểm tra, giám sát có thể trực tiếp tiếp cận hồ sơ, tài liệu gốc của doanh nghiệp, kiểm tra trực tiếp cơ sở vật chất và phần đất được giao cho doanh nghiệp. Nhờ vậy, Đoàn kiểm tra, giám sát có thể phát hiện được các hành vi vi phạm, làm rõ nguyên nhân của những vấn đề bất cập trong doanh nghiệp để báo cáo, kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên. Ngoài ra, việc kiểm tra, giám sát trực tiếp định kỳ hằng năm hoặc đột xuất có thể nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, từ đó hạn chế được những tiêu cực, sai phạm. Tuy nhiên, hình thức kiểm tra, giám sát trực tiếp tại doanh nghiệp có thể làm gián đoạn tạm thời một số hoạt động của doanh nghiệp và Bộ Quốc phòng phải chi thêm ngân sách, thời gian và nhân lực để tổ chức, thành lập Đoàn công tác.

Thứ ba, kết hợp hình thức kiểm tra, giám sát trực tiếp và gián tiếp nêu trên. Việc kết hợp hình thức kiểm tra, giám sát trực tiếp và gián tiếp có thể phát huy ưu điểm và hạn chế được khuyết điểm của mỗi hình thức. Trong đó, Bộ Quốc phòng có thể thực hiện kiểm tra, giám sát giai đoạn đầu bằng hình thức gián tiếp, qua đó, sàng lọc các vấn đề cần kiểm tra, giám sát chuyên sâu và xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát đúng trọng tâm, trọng điểm. Sau bước sàng lọc ban đầu, khi phát hiện những vấn đề cần được kiểm tra một cách chi tiết và kỹ càng hơn, Đoàn kiểm tra, giám sát có thể được thành lập để trực tiếp kiểm tra, xác minh những vấn đề bất cập mà không cần kiểm tra, giám sát tất cả những nội dung luật định. Hình thức này có thể khắc phục được nhược điểm về sự phụ thuộc vào độ tin cậy thông tin của hình thức gián tiếp và sự tốn kém của hình thức trực tiếp. Tuy vậy, hình thức kết hợp đòi hỏi các cơ quan đảm nhiệm việc tiếp nhận và thẩm định báo cáo phải có trình độ chuyên môn cao để có thể phát hiện đúng những điểm sai sót, bất cập trong báo cáo nhằm định hướng cho công tác kiểm tra trực tiếp.

Như vậy, mỗi hình thức kiểm tra, giám sát đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, phù hợp với từng mục đích và yêu cầu quản lý khác nhau. Do đó, tùy thuộc vào tình hình thực tế của vấn đề cần kiểm tra, giám sát cũng như điều kiện về ngân sách, thời gian và nhân lực, Bộ Quốc phòng có thể chủ động lựa chọn hình thức gián tiếp, trực tiếp hoặc kết hợp cả hai hình thức để triển khai thực hiện. Việc lựa chọn phương thức phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, đồng thời bảo đảm cân đối giữa yêu cầu quản lý chặt chẽ và việc duy trì hoạt động ổn định của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.

Trân trọng./.