Chế độ báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?
Chế độ báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi được biết doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có thể được Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao những nhiệm vụ quốc phòng, an ninh mang tính đặc thù và cần bảo mật cao. Vậy chế độ báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng được quy định thực hiện như thế nào để phù hợp với yêu cầu và tính chất của nhiệm vụ được giao? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
Trả lời:
1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thực hiện chế độ báo cáo như thế nào?
Báo cáo là một trong những phương thức để cơ quan quản lý theo dõi tình hình hoạt động, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và kiểm soát việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Chế độ báo cáo của các doanh nghiệp trên được thực hiện theo Điều 4 Thông tư số 06/2024/TT-BQP ngày 24/01/2024 của Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng (sau đây gọi tắt là "Thông tư số 06/2024/TT-BQP"), cụ thể như sau:
1. Chế độ báo cáo gồm: báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất.
2. Chế độ báo cáo định kỳ gồm: báo cáo quý, 6 tháng, năm, giữa kỳ và cuối kỳ kế hoạch 5 năm, cụ thể:
a) Doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện báo cáo định kỳ theo chế độ, mẫu biểu quy định tại Mục 1 Phụ lục I, Phụ lục II kèm theo Thông tư này;
b) Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện báo cáo định kỳ theo chế độ, mẫu biểu quy định tại Mục 2 Phụ lục I, Phụ lục II kèm theo Thông tư này;
c) Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con lập, trình bày báo cáo phải tổng hợp tình hình, kết quả hoạt động, báo cáo tài chính riêng và hợp nhất theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành của cả tập đoàn, tổng công ty, nhóm công ty mẹ - công ty con.
3. Chế độ báo cáo đột xuất
Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện chế độ báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Nội dung (biểu mẫu), thời hạn báo cáo căn cứ vào yêu cầu cụ thể của cơ quan, đơn vị ban hành chế độ báo cáo.
4. Ngoài chế độ báo cáo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật chuyên ngành và quy định khác có liên quan của Bộ Quốc phòng đối với từng loại hình doanh nghiệp nhà nước tương ứng."
Theo đó, chế độ báo cáo bao gồm chế độ báo cáo định kỳ và chế độ báo cáo đột xuất, cụ thể như sau:
Thứ nhất, chế độ báo cáo định kỳ gồm: báo cáo quý, 06 tháng, năm, giữa kỳ và cuối kỳ kế hoạch 05 năm, cụ thể:
- Doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện báo cáo định kỳ theo chế độ, mẫu biểu tại Mục 1 Phụ lục I, Phụ lục II kèm theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP;
- Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện báo cáo định kỳ theo chế độ, mẫu biểu Mục 2 Phụ lục I, Phụ lục II kèm theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP;
- Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con lập, trình bày báo cáo phải tổng hợp tình hình, kết quả hoạt động, báo cáo tài chính riêng và hợp nhất theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành của cả tập đoàn, tổng công ty, nhóm công ty mẹ - công ty con.
Có thể thấy, việc thiết lập nhiều thời điểm báo cáo cho phép theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp ở cả từng giai đoạn ngắn hạn và toàn bộ chu kỳ kế hoạch 05 năm. Từ đó, cơ quan quản lý có thể đánh giá diễn biến hoạt động theo từng thời kỳ, đồng thời xem xét mức độ hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong kế hoạch dài hạn.
Ngoài ra, việc thiết kế chế độ báo cáo theo từng loại hình doanh nghiệp trên thể hiện sự điều chỉnh phù hợp với tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước và mô hình tổ chức của doanh nghiệp. Đáng chú ý, yêu cầu tổng hợp thông tin ở cấp độ toàn tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước hoặc nhóm công ty mẹ - công ty con giúp phản ánh đầy đủ hơn tình hình hoạt động, tài chính của tập đoàn, tổng công ty và nhóm công ty, thay vì chỉ tập trung vào số liệu riêng của công ty mẹ. Như vậy, cơ quan quản lý có điều kiện thuận lợi để thống nhất việc tiếp nhận, tổng hợp và đánh giá thông tin, đồng thời theo dõi hiệu quả quản lý vốn nhà nước tại từng doanh nghiệp và toàn hệ thống.
Thứ hai, về chế độ báo cáo đột xuất, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện chế độ báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Nội dung (biểu mẫu), thời hạn báo cáo căn cứ vào yêu cầu cụ thể của cơ quan, đơn vị ban hành chế độ báo cáo. Chế độ báo cáo đột xuất cho phép cơ quan quản lý chủ động yêu cầu cung cấp thông tin khi phát sinh vấn đề cần kiểm tra, đánh giá hoặc phục vụ cho công tác quản lý mà không phải đợi đến đợt báo cáo định kỳ. Hơn nữa, việc xác định nội dung và thời hạn theo từng yêu cầu cụ thể của cơ quan, đơn vị ban hành chế độ báo cáo giúp thông tin được cung cấp phù hợp với mục đích quản lý và tính chất từng vụ việc.
Ngoài chế độ báo cáo định kỳ và chế độ báo cáo đột xuất nêu trên, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện chế độ báo cáo theo pháp luật chuyên ngành và quy định khác có liên quan của Bộ Quốc phòng đối với từng loại hình doanh nghiệp nhà nước tương ứng. Nội dung này cho thấy chế độ báo cáo theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP không thể thay thế cho các nghĩa vụ báo cáo được xác lập trong các văn bản pháp luật chuyên ngành và quy định khác có liên quan của Bộ Quốc phòng. Việc duy trì đồng thời các chế độ báo cáo giúp đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm hoạt động báo cáo được thực hiện phù hợp với hệ thống pháp luật có liên quan.
Nhìn chung, pháp luật đặt ra chế độ báo cáo đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng theo hướng kết hợp giữa chế độ báo cáo định kỳ và cung cấp thông tin khi có yêu cầu phát sinh. Việc xác định riêng chế độ, biểu mẫu báo cáo của các doanh nghiệp này theo tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước. Đồng thời, việc thiết lập yêu cầu tổng hợp báo cáo đối với mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, nhóm công ty mẹ - công ty con giúp thông tin phản ánh đầy đủ hơn tình hình hoạt động của từng doanh nghiệp cũng như toàn nhóm doanh nghiệp. Qua đó, chế độ báo cáo này hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đánh giá hiệu quả hoạt động và tăng cường kiểm soát việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
2. Phương thức gửi, nhận báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?
Việc gửi, nhận báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thường khắt khe hơn so với những doanh nghiệp kinh doanh thương mại vì tính đặc thù trong quản lý của Bộ Quốc phòng và yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước. Phương thức gửi, nhận báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được ghi nhận tại Điều 5 Thông tư số 06/2024/TT-BQP, cụ thể như sau:
"Điều 5. Phương thức gửi, nhận báo cáo
1. Báo cáo được thể hiện dưới hình thức văn bản giấy, hoặc văn bản điện tử gửi đến cơ quan nhận báo cáo bằng một trong các phương thức sau:
a) Gửi trực tiếp tại bộ phận văn thư của cơ quan, đơn vị nhận báo cáo;
b) Qua đường quân bưu hoặc dịch vụ bưu chính;
c) Qua chức năng gửi, nhận báo cáo của hệ thống phần mềm dùng chung trên mạng truyền số liệu quân sự trong Bộ Quốc phòng (nếu được kết nối đường truyền số liệu quân sự).
2. Trường hợp báo cáo có thông tin thuộc danh mục bảo vệ bí mật nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong Bộ Quốc phòng.
3. Việc gửi, nhận văn bản điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và Quy chế công tác văn thư trong Bộ Quốc phòng."
Theo đó, báo cáo được thể hiện dưới hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử và được gửi đến cơ quan nhận báo cáo bằng một trong các phương thức sau:
- Gửi trực tiếp tại bộ phận văn thư của cơ quan, đơn vị nhận báo cáo;
- Qua đường quân bưu hoặc dịch vụ bưu chính;
- Qua chức năng gửi, nhận báo cáo của hệ thống phần mềm dùng chung trên mạng truyền số liệu quân sự trong Bộ Quốc phòng (nếu được kết nối đường truyền số liệu quân sự).
Bên cạnh hình thức và phương thức gửi, nhận báo cáo truyền thống (văn bản giấy và gửi trực tiếp tại bộ phận văn thư hoặc gửi qua quân bưu, dịch vụ bưu chính), pháp luật cho phép hình thức và phương thức gửi, nhận báo cáo qua không gian số là gửi văn bản điện tử qua chức năng gửi, nhận báo cáo của hệ thống phần mềm dùng chung trên mạng truyền số liệu quân sự trong Bộ Quốc phòng. Điều này cho thấy nỗ lực chuyển đổi số trong công tác quản lý, giúp rút ngắn thời gian và công sức gửi, nhận báo cáo giữa doanh nghiệp và cơ quan nhận báo cáo. Dù vậy, do tính chất đặc thù của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng, việc gửi, nhận báo cáo thông qua không gian số đòi hỏi phải có tính bảo mật cao và chỉ được thực hiện thông qua hệ thống chuyên dùng của Bộ Quốc phòng.
Đặc biệt, trong trường hợp báo cáo có thông tin thuộc danh mục bảo vệ bí mật nhà nước, phương thức gửi, nhận báo cáo thực hiện theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong Bộ Quốc phòng. Việc tuân thủ chế độ bảo mật thông tin này giúp kiểm soát chặt chẽ quá trình gửi, nhận và tiếp cận tài liệu, báo cáo, hạn chế nguy cơ rò rỉ thông tin thuộc bí mật nhà nước, qua đó, bảo vệ an toàn thông tin và phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Ngoài ra, việc gửi, nhận văn bản điện tử thực hiện theo pháp luật về giao dịch điện tử và Quy chế công tác văn thư trong Bộ Quốc phòng. Công tác quản lý hiện nay được Nhà nước khuyến khích chuyển đổi số, tuy nhiên, vì tính chất đặc thù của lĩnh vực quốc phòng, an ninh đòi hỏi độ bảo mật và an toàn thông tin ở mức tuyệt đối, việc chuyển đổi số và gửi, nhận văn bản điện tử phải tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn kỹ thuật, tránh gây ảnh hưởng đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
Như vậy, pháp luật đã ghi nhận tương đối rõ ràng phương thức gửi, nhận báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng. Việc gửi, nhận tài liệu có thể thực hiện thông qua không gian số nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong công tác quản lý nhưng vẫn phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện về bảo vệ bí mật nhà nước, giao dịch điện tử theo luật định và công tác văn thư, công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong Bộ Quốc phòng. Qua đó, pháp luật vừa phản ánh tinh thần chủ động thích ứng với chuyển đổi số, vừa giữ vững nguyên tắc cốt lõi về bảo vệ bí mật nhà nước và an toàn thông tin trong hoạt động của các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.
3. Pháp luật quy định thời hạn, nơi nhận báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh như thế nào?
Bên cạnh nội dung và phương thức gửi, nhận báo cáo, pháp luật xác định rõ thời hạn, nơi nhận báo cáo của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Điều 6 Thông tư số 06/2024/TT-BQP, cụ thể như sau:
"Điều 6. Thời hạn, nơi nhận báo cáo
1. Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện lập, gửi báo cáo định kỳ đến cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận báo cáo theo thời hạn và nơi nhận báo cáo của từng loại báo cáo tương ứng quy định tại Phụ lục I kèm theo Thông tư này.
2. Ngoài cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước phải lập, gửi báo cáo tới cơ quan quản lý nhà nước có liên quan theo quy định của pháp luật chuyên ngành."
Theo đó, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện lập, gửi báo cáo định kỳ đến cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận báo cáo theo thời hạn và nơi nhận báo cáo của từng loại báo cáo tương ứng tại Phụ lục I về danh mục chế độ báo cáo định kỳ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP. Mỗi báo cáo của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng có thời hạn và nơi nhận báo cáo riêng phù hợp với chu kỳ báo cáo theo quý, 06 tháng, năm, giữa kỳ và cuối kỳ kế hoạch 05 năm. Việc xác định và áp dụng lịch trình báo cáo rõ ràng giúp bảo đảm tính kịp thời của dữ liệu về tình hình hoạt động và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tạo cơ sở để cơ quan tiếp nhận báo cáo nắm bắt tình hình thực tế định kỳ của doanh nghiệp. Ngoài ra, nơi tiếp nhận báo cáo cũng được xác định cụ thể, bảo đảm mỗi báo cáo được gửi đến cơ quan có đủ chuyên môn thẩm định và đánh giá.
Ngoài những cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận báo cáo được nêu trên, doanh nghiệp quốc phòng an ninh và Người đại diện phần vốn nhà nước phải lập, gửi báo cáo tới cơ quan quản lý nhà nước có liên quan theo pháp luật chuyên ngành. Điều này giúp doanh nghiệp vừa có thể đáp ứng quy chế quản lý nội bộ của Bộ Quốc phòng, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật chuyên ngành, qua đó, minh bạch hóa hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.
Như vậy, việc xác định cụ thể thời hạn và nơi nhận đối với từng loại báo cáo định kỳ, kết hợp với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo pháp luật chuyên ngành sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi tình hình hoạt động và việc thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp, đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Qua đó, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
Trân trọng./.