Giảm vốn điều lệ, vốn được cấp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

Giảm vốn điều lệ, vốn được cấp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Do tình hình hoạt động kinh doanh có sự điều chỉnh về chiến lược tài chính và cơ cấu đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm của chúng tôi đang xem xét phương án giảm vốn điều lệ nhằm phù hợp với nhu cầu hoạt động thực tế. Tuy nhiên, chúng tôi chưa rõ pháp luật hiện hành quy định những trường hợp nào được phép giảm vốn, điều kiện cần đáp ứng ra sao, cũng như hồ sơ, trình tự và thẩm quyền chấp thuận việc giảm vốn được thực hiện như thế nào. Bên cạnh đó, đối với doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam thì việc giảm vốn được cấp có quy định riêng hay không cũng là vấn đề chúng tôi đặc biệt quan tâm. Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Vốn điều lệ là gì?

2. Giảm vốn điều lệ, vốn được cấp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Vốn điều lệ là gì?

Vốn điều lệ là một trong những yếu tố quan trọng phản ánh tiềm lực tài chính cũng như trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đây đồng thời là cơ sở để xác định quyền, nghĩa vụ và tỷ lệ sở hữu của các thành viên hoặc cổ đông trong doanh nghiệp. Căn cứ tại khoản 34 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích như sau:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

34. Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần.”

Theo đó, có thể hiểu vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần.

Có thể hiểu chi tiết rằng, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, vốn điều lệ được hình thành từ phần tài sản mà các thành viên hoặc chủ sở hữu góp vào doanh nghiệp. Phần vốn này có thể là tiền, tài sản, quyền tài sản hoặc các loại tài sản khác được pháp luật cho phép. Nội dung này thể hiện trách nhiệm tài chính ban đầu của các thành viên đối với hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở để xác định quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng của từng người góp vốn.

Trong khi đó, đối với công ty cổ phần, vốn điều lệ được xác định dựa trên tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được các cổ đông đăng ký mua khi thành lập công ty. Điều này phản ánh đặc điểm huy động vốn linh hoạt của loại hình công ty cổ phần thông qua việc phát hành cổ phần cho các cổ đông tham gia góp vốn. Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng nguồn lực tài chính để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển.

Có thể thấy rằng, vốn điều lệ không chỉ đơn thuần là số vốn ban đầu khi thành lập doanh nghiệp mà còn mang ý nghĩa pháp lý và kinh tế đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở xác định quyền sở hữu, tỷ lệ góp vốn và trách nhiệm của các thành viên, cổ đông trong doanh nghiệp. Đồng thời, vốn điều lệ còn góp phần tạo dựng niềm tin đối với đối tác, khách hàng và các tổ chức có liên quan trong quá trình hợp tác kinh doanh. Việc xác định và góp vốn điều lệ đầy đủ, đúng quy định sẽ giúp doanh nghiệp bảo đảm tính minh bạch, ổn định tài chính và tạo nền tảng thuận lợi cho quá trình hoạt động, phát triển lâu dài trên thị trường.

2. Giảm vốn điều lệ, vốn được cấp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

Việc giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính, khả năng thanh toán và mức độ an toàn hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm cũng như chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam. Vì vậy, pháp luật đặt ra những điều kiện và thủ tục chặt chẽ nhằm bảo đảm quyền lợi của khách hàng, đối tác và sự ổn định của thị trường bảo hiểm. Căn cứ tại Điều 20 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 46/2023/NĐ-CP”) nêu rõ:

Điều 20. Giảm vốn điều lệ, vốn được cấp

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam muốn giảm vốn điều lệ, vốn được cấp phải đáp ứng các điều kiện sau:

a) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tài chính theo quy định tại Nghị định này;

b) Sau khi giảm vốn điều lệ, vốn được cấp, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải đảm bảo các quy định về vốn, biên khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật và điều kiện về cơ cấu cổ đông quy định tại Điều 66 Luật Kinh doanh bảo hiểm đối với công ty cổ phần.

2. Hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc để giảm vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm), vốn được cấp (đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam) bao gồm các tài liệu sau:

a) Văn bản đề nghị được thay đổi vốn điều lệ hoặc vốn được cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Văn bản của cấp có thẩm quyền theo quy định tại Điều lệ công ty (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm) hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động (đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam) về việc giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp, trong đó nêu rõ số vốn giảm, phương thức giảm vốn và thời gian thực hiện;

c) Phương án giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp trong đó chứng minh được doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận về nguyên tắc. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do.

4. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc về việc giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam hoàn thành việc giảm vốn và nộp Bộ Tài chính 01 bộ hồ sơ bao gồm:

a) Báo cáo tóm tắt về kết quả thực hiện việc giảm vốn điều lệ (hoặc vốn được cấp) theo phương án đã được Bộ Tài chính chấp thuận trong đó nêu rõ kết quả các chỉ tiêu tài chính sau khi hoàn thành việc giảm vốn;

b) Bằng chứng chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã hoàn tất việc chi trả, thanh toán cho các cổ đông (hoặc thành viên) góp vốn; chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đã chuyển trả doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài đủ số vốn giảm (đối với trường hợp giảm vốn).

5. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính cấp Giấy phép điều chỉnh cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo mẫu quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do.

6. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc đề nghị giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp, nếu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không thực hiện được phương án thay đổi mức vốn đã được chấp thuận thì phải báo cáo Bộ Tài chính phương án xử lý.

7. Không thực hiện việc giảm vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.”

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam muốn giảm vốn điều lệ, vốn được cấp phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tài chính theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP;

- Sau khi giảm vốn điều lệ, vốn được cấp, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải đảm bảo các quy định về vốn, biên khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật và điều kiện về cơ cấu cổ đông tại Điều 66 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đối với công ty cổ phần.

Bên cạnh đó, để được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc, doanh nghiệp phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định. Theo đó, hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc để giảm vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm), vốn được cấp (đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam) bao gồm các tài liệu sau:

- Văn bản đề nghị được thay đổi vốn điều lệ hoặc vốn được cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP;

- Văn bản của cấp có thẩm quyền theo quy định tại Điều lệ công ty (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm) hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động (đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam) về việc giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp, trong đó nêu rõ số vốn giảm, phương thức giảm vốn và thời gian thực hiện;

- Phương án giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp trong đó chứng minh được doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo khoản 1 Điều 20 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP.

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận về nguyên tắc. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do. Quy trình này góp phần bảo đảm tính minh bạch, công khai và trách nhiệm trong hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo hiểm.

Sau khi được chấp thuận về nguyên tắc, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc về việc giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam hoàn thành việc giảm vốn và nộp Bộ Tài chính 01 bộ hồ sơ bao gồm:

- Báo cáo tóm tắt về kết quả thực hiện việc giảm vốn điều lệ (hoặc vốn được cấp) theo phương án đã được Bộ Tài chính chấp thuận trong đó nêu rõ kết quả các chỉ tiêu tài chính sau khi hoàn thành việc giảm vốn;

- Bằng chứng chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã hoàn tất việc chi trả, thanh toán cho các cổ đông (hoặc thành viên) góp vốn; chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đã chuyển trả doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài đủ số vốn giảm (đối với trường hợp giảm vốn).

Những yêu cầu này nhằm bảo đảm quá trình giảm vốn được thực hiện thực tế, minh bạch và không phát sinh tranh chấp liên quan đến quyền, lợi ích của các chủ thể góp vốn. Sau khi xem xét hồ sơ, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính cấp Giấy phép điều chỉnh cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo mẫu Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do.

Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc đề nghị giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp, nếu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không thực hiện được phương án thay đổi mức vốn đã được chấp thuận thì phải báo cáo Bộ Tài chính phương án xử lý. Đặc biệt, pháp luật cũng xác định rõ không thực hiện việc giảm vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Điều này nhằm bảo đảm tính ổn định về tài chính và trách nhiệm tài sản của loại hình doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu.

Vậy là, việc giảm vốn điều lệ hoặc vốn được cấp trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm không chỉ là hoạt động điều chỉnh về tài chính mà còn liên quan trực tiếp đến mức độ an toàn của doanh nghiệp và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Các điều kiện và thủ tục mà pháp luật đặt ra nhằm bảo đảm doanh nghiệp vẫn duy trì năng lực tài chính cần thiết sau khi giảm vốn, đồng thời hạn chế những rủi ro có thể phát sinh đối với thị trường bảo hiểm. Thông qua cơ chế kiểm soát của Bộ Tài chính, hoạt động giảm vốn được thực hiện minh bạch, chặt chẽ và đúng trình tự pháp luật. Điều này góp phần nâng cao tính ổn định, an toàn và phát triển bền vững của thị trường kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

Trân trọng./.