ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC PHẠM VI BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Tình huống pháp lý:

Trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và giao dịch bảo đảm, có trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không thống nhất được với nhau về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do các điều khoản trong hợp đồng không rõ ràng hoặc có xung đột giữa các điều khoản trong hợp đồng. Bên nhận bảo đảm cho rằng phạm vi bảo đảm bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi; bên bảo đảm lại xác định phạm vi bảo đảm chỉ bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc. Việc làm rõ phạm vi bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nghĩa vụ của bên bảo đảm trong trường hợp bên vay theo hợp đồng tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Với thỏa thuận được trích dẫn tại mục [1] và [2] cần được hiểu nghĩa vụ được bảo đảm là khoản nợ gốc 16.296.000.000 đồng của hai hợp đồng tín dụng nêu trên và cả tiền lãi của khoản nợ gốc này

[6] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Tài sản bảo đảm của ông D, bà B là nhà đất tại phố L theo Hợp đồng bảo lãnh số 77/12/EIBQ7-KHDN/TSTC ngày 13/6/2012 (giá trị 16.296.000.000 đồng) bảo đảm cho khoản vay của Công ty Q tại Ngân hàng E theo Hợp đồng tín dụng số 1403-LAV-201200351 ngày 14/6/2012 với số tiền 12.346.000.000 đồng và theo Hợp đồng tín dụng số 1403- LAV- 200900736 ngày 14/12/2009 với số tiền 3.950.000.000 đồng, tổng cộng là 16.296.000.000 đồng (chưa bao gồm lãi, tiền phạt, phí và các chi phí liên quan khác). Do đó, Công ty V yêu cầu phạm vi bảo lãnh của vợ chồng ông D với nghĩa vụ bảo đảm tương ứng số nợ vay của Hợp đồng tín dụng số 1403-LAV- 200900736 ngày 14/12/2009 nợ gốc là 2.621.000.000 đồng, nợ lãi là 2.578.996.287 đồng, tổng là 5.199.996.287 đồng và một phần Hợp đồng tín dụng số 1403-LAV-201200351 ngày 14/6/2012 nợ gốc là 12.346.000.000 đồng, nợ lãi là 14.342.939.112 đồng, tổng là 26.688.939.112 đồng; tổng nghĩa vụ bảo đảm tạm tính đến ngày 27/11/2019 (ngày xét xử sơ thẩm) là 31.888.935.399 đồng là đúng với thỏa thuận đã ký giữa các bên trong Hợp đồng bảo lãnh số 77/12/EIBQ7- KHDN/TSTC ngày 13/6/2012 nêu trên là có căn cứ, chưa vượt quá cam kết bảo lãnh của ông D, bà B.”