ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ ĐIỀU KHOẢN LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM

Tình huống pháp lý:

Theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (tương ứng với Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022) về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm thì: “1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm. 2. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng. 3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây: a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý; b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Điểm a khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (tương ứng với điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022) quy định doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ “Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm”. Tuy nhiên, có trường hợp khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm (thông qua đại lý bảo hiểm) không thực hiện việc giải thích, cung cấp đầy đủ thông tin cho bên mua bảo hiểm về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, không quy định rõ về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp này khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có phải trả tiền bảo hiểm không?

Nội dung đề xuất án lệ:

[13]… Hợp đồng bảo hiểm tàu cá số AD: 0134/19B352002 AD: 0177/19IN52002 ngày 19/6/2019, giữa ông Nguyễn Thế L với Công ty B Quảng Bình không ghi rõ các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Tại Điều 2 của Hợp đồng chỉ ghi dẫn chiếu đến Quyết định số 0001/2017- BM/BHHH ngày 01/01/2017, trong khi quyết định này không phải là phụ lục của hợp đồng.

[14] Ngoài ra, ông Nguyễn Thế L khẳng định, ông không được giải thích về điều khoản miễn trừ này và cũng không nhận được văn bản về các quy tắc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Minh Huy (là người bán bảo hiểm cho ông L) xác định: “Trước khi ký kết hợp đồng thì hai bên trao đối trên điện thoại. Sau khi ký kết, ông Huy không đưa gì cho ông L và ông Huy gửi Hợp đồng bảo hiểm cho ông L bằng cách gửi xe buýt, nhưng không gửi bản quy tắc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm kèm theo hợp đồng cho ông L. Ông Huy xác định, ông gửi bản quy tắc sau và gửi bằng file DPF chứ không gửi bản giấy”.

[15] Như vậy, nguyên đơn xác nhận không nhận được bản quy tắc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; phía bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu để chứng minh đã giao bản quy tắc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm cho nguyên đơn. Do các quy tắc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm không được quy định rõ ràng tại hợp đồng nên không thể căn cứ vào khoản 2 Điều 16 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 để loại trừ bảo hiểm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn…

[16] Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm nhận định tàu cá của ông Nguyễn Thế L hoạt động đánh bắt sai vùng và vi phạm quy định về thiết bị giám sát, từ đó căn cứ dẫn chiếu tại Quyết định số 0001/2017-BMHH, do Tổng Công ty Cổ phần B ban hành ngày 01/01/2017 để loại trừ bảo hiểm cho tàu cá gặp nạn của ông Nguyễn Thế L là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thế L.”