Cung cấp sản phẩm bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Cung cấp sản phẩm bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang định mua bảo hiểm cho gia đình nhưng thấy có quá nhiều kênh mời chào từ nhân viên ngân hàng, đại lý cá nhân đến cả các ứng dụng trên điện thoại. Tôi băn khoăn không biết theo quy định hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm được phép cung cấp sản phẩm qua những hình thức cụ thể nào để đảm bảo đúng luật và an toàn cho người mua? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.
MỤC LỤC
1. Doanh nghiệp bảo hiểm là gì?
2. Cung cấp sản phẩm bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
1. Doanh nghiệp bảo hiểm là gì?
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm giữ vai trò trung tâm trong việc cung cấp các sản phẩm bảo hiểm và thực hiện cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Để bảo đảm hoạt động này được thực hiện đúng quy định và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia, pháp luật đã nêu rõ khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm tại khoản 17 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
17. Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe.”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm có thể được hiểu là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 và luật khác có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe.
Như vậy, đây là chủ thể có tư cách pháp lý, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm và chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật. Có thể thấy, đây là một chủ thể pháp lý quan trọng, đóng vai trò then chốt trong việc vận hành thị trường bảo hiểm. Việc quy định rõ khái niệm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm.
2. Cung cấp sản phẩm bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Nhằm đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) đã ghi nhận cụ thể về cung cấp sản phẩm bảo hiểm như sau:
“Điều 27. Cung cấp sản phẩm bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ được cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nội dung, phạm vi hoạt động quy định trong giấy phép.
2. Việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm qua hình thức đấu thầu phải tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và pháp luật về đấu thầu.
3. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm cung cấp cho bên mua bảo hiểm các tài liệu sau:
a) Quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
b) Tài liệu tóm tắt quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
c) Tài liệu minh họa bán hàng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ;
d) Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
đ) Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm.
4. Các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này là một phần của hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài có trách nhiệm đảm bảo tính thống nhất của các thông tin nêu tại các tài liệu quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản 3 Điều này.
5. Đối với các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm hưu trí:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có trách nhiệm cung cấp các tài liệu quy định tại điểm b, điểm c và điểm d khoản 3 Điều này bằng bản giấy cho bên mua bảo hiểm. Thời gian cân nhắc tham gia bảo hiểm được tính từ ngày bên mua bảo hiểm xác nhận đã nhận được bản giấy các tài liệu nêu trên.
b) Việc cung cấp các tài liệu quy định tại điểm a và điểm đ khoản 3 Điều này được thực hiện theo các hình thức đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp bản giấy cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm có yêu cầu.
6. Đối với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe khác ngoài các sản phẩm bảo hiểm quy định tại khoản 5 Điều này, việc cung cấp các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này được thực hiện theo các hình thức đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp bản giấy cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm có yêu cầu.
7. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đáp ứng các nội dung quy định tại điểm b khoản 3 và khoản 5 Điều này kể từ ngày 01/7/2024.”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ được cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nội dung, phạm vi hoạt động quy định trong giấy phép, đồng thời việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm qua hình thức đấu thầu phải tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và pháp luật về đấu thầu.
Bên cạnh đó, khi tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm cung cấp cho bên mua bảo hiểm các tài liệu sau:
- Quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
- Tài liệu tóm tắt quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
- Tài liệu minh họa bán hàng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ;
- Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
- Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm.
Đáng chú ý, các tài liệu nêu trên không chỉ là văn bản đính kèm đơn giản mà là một phần của hợp đồng bảo hiểm, đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài có trách nhiệm đảm bảo tính thống nhất của các thông tin nêu tại các tài liệu quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản 3 Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC.
Đối với các sản phẩm có tính chất phức tạp như sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có trách nhiệm cung cấp các tài liệu tại điểm b, điểm c và điểm d khoản 3 Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC bằng bản giấy cho bên mua bảo hiểm để làm căn cứ tính thời gian cân nhắc tham gia bảo hiểm dựa vào ngày bên mua bảo hiểm xác nhận đã nhận được bản giấy các tài liệu nêu trên. Việc cung cấp các tài liệu quy định tại điểm a và điểm đ khoản 3 Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC được thực hiện theo các hình thức đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp bản giấy cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm có yêu cầu.
Đối với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe khác ngoài các sản phẩm bảo hiểm tại khoản 5 Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC, việc cung cấp các tài liệu tại khoản 3 Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC được thực hiện theo các hình thức đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp bản giấy cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm có yêu cầu.
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đáp ứng các nội dung tại điểm b khoản 3 và khoản 5 Điều 27 Thông tư số 67/2023/TT-BTC kể từ ngày 01/7/2024. Việc chi tiết hóa các điều khoản này mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, giúp thiết lập một "hàng rào" pháp lý bảo vệ người mua trước những rủi ro về thông tin, đồng thời nâng cao tính chuyên nghiệp và trách nhiệm giải trình của các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường.
Từ đó, ta thấy được rằng, điều luật trên đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý đồng bộ và chặt chẽ, buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải minh bạch hóa toàn bộ quá trình tiếp cận khách hàng. Việc nhấn mạnh vào trách nhiệm cung cấp tài liệu bản giấy và tính thống nhất của hợp đồng cho thấy nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc bảo vệ quyền lợi tối ưu cho người tham gia. Sự ghi nhận này không chỉ giúp giảm thiểu các tranh chấp không đáng có mà còn góp phần xây dựng niềm tin vững chắc của người dân vào thị trường bảo hiểm. Đây chính là nền tảng quan trọng để thúc đẩy ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển một cách bền vững, lành mạnh và công bằng hơn trong giai đoạn tới.
Trân trọng./.