Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe bao gồm những nội dung gì?

Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe bao gồm những nội dung gì?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu để mua bảo hiểm nhân thọ kèm quyền lợi sức khỏe cho cả nhà nhưng thấy hồ sơ đại lý đưa có quá nhiều mục cần điền. Tôi muốn hỏi rõ Bản yêu cầu bảo hiểm và bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro thường bao gồm những nội dung chi tiết nào? Đồng thời, đối tượng bảo hiểm của hai dòng sản phẩm này cụ thể là gì để tôi không bị kê khai sai sót dẫn đến rủi ro bị từ chối bồi thường sau này? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.

MỤC LỤC

1. Rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì?

2. Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe bao gồm những nội dung gì?

 

Trả lời:

1. Rủi ro là gì? Rủi ro bảo hiểm là gì?

Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, “rủi ro” là khái niệm nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình thiết kế sản phẩm, tính phí và quản trị hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Việc nhận diện đúng rủi ro và phân biệt rủi ro bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm an toàn tài chính và khả năng thực hiện cam kết với khách hàng. Căn cứ tại khoản 2, 6 Điều 3 Thông tư số 70/2022/TT-BTC ngày 16/11/2022 của Bộ Tài chính quy định về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 70/2022/TT-BTC”) xác định:

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

2. Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài.

...

6. Rủi ro bảo hiểm là các rủi ro phát sinh do biến động các yếu tố kỹ thuật liên quan đến tính phí bảo hiểm và trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, bao gồm:

a) Rủi ro liên quan đến tính phí bảo hiểm: Việc thiết lập các giả định tính phí không phù hợp dẫn đến phí bảo hiểm tính toán không đủ để chi trả các quyền lợi bảo hiểm cam kết trong thời hạn hợp đồng và bù đắp các chi phí hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài. Các giả định tính phí bao gồm: Tỷ lệ rủi ro tử vong, tỷ lệ rủi ro sống thọ, tỷ lệ bồi thường, tỷ lệ chi phí, lãi suất đầu tư, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng và các giả định khác sử dụng trong mô hình tính phí bảo hiểm;

b) Rủi ro liên quan đến trích lập dự phòng bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ: Việc trích lập dự phòng bồi thường không đủ để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;

c) Rủi ro liên quan đến thảm họa: Là rủi ro khi tỷ lệ bồi thường thực tế lớn, vượt quá giá định tính phí do các nguyên nhân dịch bệnh, thảm họa gây ra.”

Theo đó, rủi ro có thể hiểu là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài. Như vậy, rủi ro không chỉ là sự kiện bất lợi có thể xảy ra, mà còn gắn trực tiếp với hậu quả tiêu cực đối với hoạt động và sự ổn định tài chính của doanh nghiệp.

Còn đối với rủi ro bảo hiểm, đây có thể hiểu là các rủi ro phát sinh do biến động các yếu tố kỹ thuật liên quan đến tính phí bảo hiểm và trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, bao gồm:

- Rủi ro liên quan đến tính phí bảo hiểm: Việc thiết lập các giả định tính phí không phù hợp dẫn đến phí bảo hiểm tính toán không đủ để chi trả các quyền lợi bảo hiểm cam kết trong thời hạn hợp đồng và bù đắp các chi phí hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài. Các giả định tính phí bao gồm: Tỷ lệ rủi ro tử vong, tỷ lệ rủi ro sống thọ, tỷ lệ bồi thường, tỷ lệ chi phí, lãi suất đầu tư, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng và các giả định khác sử dụng trong mô hình tính phí bảo hiểm;

- Rủi ro liên quan đến trích lập dự phòng bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ: Việc trích lập dự phòng bồi thường không đủ để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;

- Rủi ro liên quan đến thảm họa: Là rủi ro khi tỷ lệ bồi thường thực tế lớn, vượt quá giá định tính phí do các nguyên nhân dịch bệnh, thảm họa gây ra.

Như vậy, rủi ro là khả năng phát sinh tổn thất ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp, còn rủi ro bảo hiểm là dạng rủi ro chuyên biệt xuất phát từ chính kỹ thuật kinh doanh bảo hiểm. Việc phân định rõ hai khái niệm này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn giúp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và củng cố niềm tin của người tham gia bảo hiểm đối với thị trường.

2. Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe bao gồm những nội dung gì?

Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe, bản yêu cầu bảo hiểm cùng các bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá mức độ rủi ro, xác định quyền lợi bảo hiểm mà còn là cơ sở bảo đảm tính minh bạch, trung thực và tự nguyện khi giao kết hợp đồng bảo hiểm. Nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm cũng như bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm, Điều 30 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) đã nêu chi tiết như sau:

Điều 30. Bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe

1. Bản yêu cầu bảo hiểm phải có phần thông tin xác nhận của bên mua bảo hiểm về việc đã được giải thích rõ ràng, đầy đủ về quyền lợi sản phẩm bảo hiểm, nhận thức được các đặc thù của sản phẩm đã lựa chọn. Đối với trường hợp tham gia bảo hiểm qua đại lý là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phần thông tin xác nhận phải có thêm nội dung bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc.

2. Các bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm bao gồm:

a) Bảng câu hỏi kê khai sức khỏe của người được bảo hiểm (đối với sản phẩm bảo hiểm yêu cầu kê khai sức khỏe) do bên mua bảo hiểm kê khai và xác nhận;

b) Bảng câu hỏi đánh giá khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm (đối với sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp, sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và nghiệp vụ bảo hiểm hưu trí); Bảng câu hỏi đánh giá mức độ chấp nhận rủi ro trong đầu tư (đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị). Các tài liệu này do đại lý bảo hiểm đánh giá, kê khai dựa trên thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp và phải có xác nhận của bên mua bảo hiểm.

3. Bảng câu hỏi kê khai sức khỏe của người được bảo hiểm phải bảo đảm:

a) Các câu hỏi về sức khỏe và các thuật ngữ y khoa phải rõ ràng để bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm có thể hiểu rõ và kê khai đầy đủ, chính xác. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đưa ra các câu hỏi không rõ ràng, không xác định thời điểm, thời gian yêu cầu cung cấp thông tin thì việc bên mua bảo hiểm không trả lời chính xác các câu hỏi trên sẽ không bị coi là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin;

b) Việc kê khai lịch sử khám chữa bệnh, thông tin về dấu hiệu, triệu chứng liên quan đến bệnh tật không vượt quá 03 năm. Trường hợp có những câu hỏi yêu cầu kê khai thông tin vượt quá 03 năm, doanh nghiệp bảo hiểm phải quy định rõ các bệnh lý cần phải kê khai và hướng dẫn rõ bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm các thông tin cần kê khai.

4. Bảng câu hỏi đánh giá khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm phải bảo đảm:

a) Bao gồm tối thiểu các nội dung: tổng thu nhập (đối với bên mua bảo hiểm là cá nhân), khoản phí bảo hiểm dự kiến đóng và thời gian đóng phí dự kiến;

b) Các câu hỏi đánh giá phải có các tiêu chí, định mức cụ thể để có thể đánh giá được mức độ phù hợp của sản phẩm bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm dự kiến tham gia với khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm. Đại lý bảo hiểm chỉ được tư vấn các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm trong phạm vi các định mức đã xác định của doanh nghiệp bảo hiểm.

5. Bảng câu hỏi đánh giá mức độ chấp nhận rủi ro trong đầu tư phải bảo đảm:

a) Bao gồm tối thiểu các nội dung: đánh giá về khẩu vị rủi ro, kinh nghiệm đầu tư của bên mua bảo hiểm;

b) Câu hỏi đánh giá phải rõ ràng, cụ thể để có thể xác định được mức độ chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, tối thiểu chi tiết theo năm (05) nhóm: Nhóm thận trọng về đầu tư; Nhóm tương đối thận trọng về đầu tư; Nhóm cân bằng về đầu tư; Nhóm tương đối mạo hiểm về đầu tư và Nhóm mạo hiểm về đầu tư.

6. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý, phù hợp giữa các thông tin trong bản yêu cầu bảo hiểm và các bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp có nội dung không phù hợp, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm kiểm tra, xác minh lại nội dung tư vấn của đại lý bảo hiểm.

7. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đáp ứng các nội dung quy định tại Điều này kể từ ngày 01/7/2024.”

Theo đó, bản yêu cầu bảo hiểm phải có phần thông tin xác nhận của bên mua bảo hiểm về việc đã được giải thích rõ ràng, đầy đủ về quyền lợi sản phẩm bảo hiểm, nhận thức được các đặc thù của sản phẩm đã lựa chọn. Đối với trường hợp tham gia bảo hiểm qua đại lý là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phần thông tin xác nhận phải có thêm nội dung bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Điều này nhằm bảo đảm tính minh bạch và trung thực trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để hạn chế tình trạng tư vấn sai lệch, ép buộc khách hàng mua bảo hiểm khi thực hiện các giao dịch tín dụng tại ngân hàng.

Trong đó, các bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm bao gồm:

- Bảng câu hỏi kê khai sức khỏe của người được bảo hiểm (đối với sản phẩm bảo hiểm yêu cầu kê khai sức khỏe) do bên mua bảo hiểm kê khai và xác nhận;

- Bảng câu hỏi đánh giá khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm (đối với sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp, sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và nghiệp vụ bảo hiểm hưu trí); Bảng câu hỏi đánh giá mức độ chấp nhận rủi ro trong đầu tư (đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị). Các tài liệu này do đại lý bảo hiểm đánh giá, kê khai dựa trên thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp và phải có xác nhận của bên mua bảo hiểm.

Với nội dung bảng câu hỏi trên giúp bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm có đầy đủ dữ liệu để đánh giá chính xác mức độ rủi ro và khả năng tham gia bảo hiểm của khách hàng. Không những vậy, còn giúp hạn chế tình trạng tư vấn sản phẩm không phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính hoặc mong muốn đầu tư của bên mua bảo hiểm.

Đối với bảng câu hỏi kê khai sức khỏe của người được bảo hiểm phải bảo đảm:

- Các câu hỏi về sức khỏe và các thuật ngữ y khoa phải rõ ràng để bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm có thể hiểu rõ và kê khai đầy đủ, chính xác. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đưa ra các câu hỏi không rõ ràng, không xác định thời điểm, thời gian yêu cầu cung cấp thông tin thì việc bên mua bảo hiểm không trả lời chính xác các câu hỏi trên sẽ không bị coi là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin;

- Việc kê khai lịch sử khám chữa bệnh, thông tin về dấu hiệu, triệu chứng liên quan đến bệnh tật không vượt quá 03 năm. Trường hợp có những câu hỏi yêu cầu kê khai thông tin vượt quá 03 năm, doanh nghiệp bảo hiểm phải quy định rõ các bệnh lý cần phải kê khai và hướng dẫn rõ bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm các thông tin cần kê khai.

Những yêu cầu này nhằm bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm trước các câu hỏi mơ hồ hoặc gây bất lợi trong quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm, tạo sự công bằng và minh bạch giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng khi xác định trách nhiệm cung cấp thông tin.

Bên cạnh đó, với mong muốn giúp khách hàng lựa chọn sản phẩm bảo hiểm phù hợp với điều kiện tài chính thực tế, tránh áp lực đóng phí kéo dài, nâng cao trách nhiệm của đại lý bảo hiểm trong hoạt động tư vấn và phân phối sản phẩm bảo hiểm, bảng câu hỏi đánh giá khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm phải bảo đảm:

- Bao gồm tối thiểu các nội dung: tổng thu nhập (đối với bên mua bảo hiểm là cá nhân), khoản phí bảo hiểm dự kiến đóng và thời gian đóng phí dự kiến;

- Các câu hỏi đánh giá phải có các tiêu chí, định mức cụ thể để có thể đánh giá được mức độ phù hợp của sản phẩm bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm dự kiến tham gia với khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm. Đại lý bảo hiểm chỉ được tư vấn các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm trong phạm vi các định mức đã xác định của doanh nghiệp bảo hiểm.

Đối với bảng câu hỏi đánh giá mức độ chấp nhận rủi ro trong đầu tư phải bảo đảm:

- Bao gồm tối thiểu các nội dung: đánh giá về khẩu vị rủi ro, kinh nghiệm đầu tư của bên mua bảo hiểm;

- Câu hỏi đánh giá phải rõ ràng, cụ thể để có thể xác định được mức độ chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, tối thiểu chi tiết theo năm (05) nhóm: Nhóm thận trọng về đầu tư; Nhóm tương đối thận trọng về đầu tư; Nhóm cân bằng về đầu tư; Nhóm tương đối mạo hiểm về đầu tư và Nhóm mạo hiểm về đầu tư.

Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý, phù hợp giữa các thông tin trong bản yêu cầu bảo hiểm và các bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp có nội dung không phù hợp, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm kiểm tra, xác minh lại nội dung tư vấn của đại lý bảo hiểm. Từ đó, góp phần phòng ngừa hành vi tư vấn sai sự thật, kê khai không trung thực hoặc trục lợi bảo hiểm.

Không chỉ vậy, để tạo cơ sở pháp lý thống nhất để các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai đồng bộ quy trình tư vấn và phát hành hợp đồng bảo hiểm, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong việc quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đáp ứng các nội dung tại Điều 30 Thông tư số 67/2023/TT-BTC kể từ ngày 01/7/2024.

Như vậy, điều luật trên đã xây dựng một cơ chế pháp lý tương đối chặt chẽ đối với hoạt động tư vấn, kê khai và đánh giá rủi ro trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe. Các quy định này không chỉ bảo đảm tính minh bạch, trung thực và tự nguyện khi tham gia bảo hiểm mà còn nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm và đại lý bảo hiểm trong quá trình cung cấp sản phẩm. Đồng thời, việc chuẩn hóa các bảng câu hỏi và tiêu chí đánh giá giúp khách hàng lựa chọn sản phẩm phù hợp với tình trạng sức khỏe, khả năng tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của bản thân. Qua đó, quy định góp phần hạn chế tranh chấp phát sinh, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, đồng thời thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, minh bạch và bền vững.

Trân trọng./.